<?xml version='1.0' encoding='UTF-8'?><?xml-stylesheet href="http://www.blogger.com/styles/atom.css" type="text/css"?><feed xmlns='http://www.w3.org/2005/Atom' xmlns:openSearch='http://a9.com/-/spec/opensearchrss/1.0/' xmlns:georss='http://www.georss.org/georss' xmlns:gd='http://schemas.google.com/g/2005' xmlns:thr='http://purl.org/syndication/thread/1.0'><id>tag:blogger.com,1999:blog-4274400117116119553</id><updated>2011-08-15T02:54:33.183-07:00</updated><title type='text'>Anh Hùng Và Phản Bội trong QLVNCH</title><subtitle type='html'></subtitle><link rel='http://schemas.google.com/g/2005#feed' type='application/atom+xml' href='http://anhhungvaphanboi.blogspot.com/feeds/posts/default'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/4274400117116119553/posts/default?max-results=100'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://anhhungvaphanboi.blogspot.com/'/><link rel='hub' href='http://pubsubhubbub.appspot.com/'/><author><name>Nha Kỹ Thuật</name><uri>http://www.blogger.com/profile/00058869536112748808</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='26' height='32' src='http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SKrYhjfyioI/AAAAAAAAC0w/Z-Pv_vtrYCM/S220/phamhoasize07.jpg'/></author><generator version='7.00' uri='http://www.blogger.com'>Blogger</generator><openSearch:totalResults>12</openSearch:totalResults><openSearch:startIndex>1</openSearch:startIndex><openSearch:itemsPerPage>100</openSearch:itemsPerPage><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-4274400117116119553.post-1899989918841542723</id><published>2010-02-24T22:43:00.000-08:00</published><updated>2010-07-22T17:43:30.072-07:00</updated><title type='text'>Hàng Tướng Dương Văn Minh</title><content type='html'>&lt;div style="color: #660000;"&gt;&lt;b&gt; &lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="left" style="color: #660000;"&gt;&lt;b&gt;&lt;a href="http://2.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SpVeWvNsXSI/AAAAAAAAGOA/mzIsZhw4wgg/s1600-h/0_TUONG_DUONG_VAN_MINH_1963_jpg.jpg"&gt;&lt;img alt="" border="0" id="BLOGGER_PHOTO_ID_5374305475060587810" src="http://2.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SpVeWvNsXSI/AAAAAAAAGOA/mzIsZhw4wgg/s400/0_TUONG_DUONG_VAN_MINH_1963_jpg.jpg" style="display: block; height: 299px; margin: 0px auto 10px; text-align: center; width: 239px;" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;/b&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="font-size: 130%;"&gt;"Trăm năm bia đá thì mòn&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="left" style="color: #660000;"&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="font-size: 130%;"&gt;Ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ"&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="left" style="color: #660000;"&gt;&lt;b&gt;&lt;br /&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;script language="JavaScript" src="http://pub16.bravenet.com/counter/code.php?id=405502&amp;amp;usernum=1340045908&amp;amp;cpv=2" type="text/javascript"&gt;&lt;/script&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Hàng Tướng Dương Văn Minh&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Lữ Giang&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&lt;br /&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Trong các tướng lãnh tham gia chính trường tại miền Nam Việt Nam, có lẽ tướng có thân phận bi thảm nhất là Tướng Dương Văn Minh. Biết Dương Văn Minh không hiểu biết gì về chính và thủ đoạn chính trị, thường suy nghĩ và hành động theo cảm tính, lại mắc bệnh tham lam, nên Hoa Kỳ đã biến ông thành một một công cụ đầy oan nghiệt để thực hiện chính sách của Hoa Kỳ trong từng giai đoạn rồi loại bỏ.&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt; &lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Có thể coi cuộc đời và vai trò của Tướng Dương Văn Minh như là một chương bi thảm trong lịch sử VNCH và cũng là một chương bi thảm trong tương quan giữa VNCH và Hoa Kỳ.&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Người Việt ai cũng thuộc câu “Tri bỉ tri kỷ bách chiến bách thắng”, nhưng mặc đầu đã chiến đấu với Mỹ trong 20 năm và đã ở trên đất Mỹ 34 năm, đa số người Việt chống Cộng không biết Mỹ và địch đang làm gì, cứ suy nghĩ và hành động theo cảm tính, nên đấu tranh đã 34 năm mà vẫn chưa thấy ánh sáng ở cuối đường hầm. Vì thế, hôm nay nhân kỷ niệm ngày mất nước, chúng tôi xin trình bày tóm lược về một số bí ẩn và tai tiếng chung quanh cuộc đời và vai trò của Tướng Dương Văn Minh với ước mong mọi người có thể nhìn vào đó tìm ra bài học lịch sử khi tiếp tục đấu tranh.&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&lt;br /&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;VỤ BIỂN THỦ MỘT THÙNG PHUY VÀNG &lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt; Trong cuốn “Việt Nam một trời tâm sự”, Tướng Nguyễn Chánh Thi có kể lại:&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Sáng ngày thứ 4, một toán thuyền và độ vài trăm người có súng đi ra với nhiều lá cờ trắng xin đầu hàng. Tiếp theo là một chiếc tàu chở ông Hồ Hữu Tường và ông Trần Văn Ân, cố vấn của Lê Văn Viễn ra điều đình. Tướng Thi kể tiếp:&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;“Trong toán này có Thiếu Tá Tư Nhỏ trước kia ở Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa đào ngũ theo Bình Xuyên vì y là con rễ của Bảy Viễn.&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;“Tư Nhỏ ra đầu hàng và tình nguyện đi chỉ chỗ vàng bạc chôn giấu của Bảy Viễn. Hắn ta nói:&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;“- Trước đây một toán Bình Xuyên 8 người cùng chiếc du thuyền của Bảy Viễn chở 6 thùng 200 lít đựng bạc và một thùng đựng vàng, hột xoàn đem đi chôn giấu. Khi chôn xong rồi thì 8 người ấy đều bị giết ngay và lấp xuống ở gần đó.&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;“Khi tình hình ở đây được hoàn toàn yên ổn, tôi được quan sát tận mắt sự đào hầm giấu tiền và các bộ mặt căng thẳng của Bộ Tư Lệnh của Đại Tá Dương Văn Minh và Trung Tá Nguyễn Khánh mà đâm ra hoài nghi.&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;“Trung Tá Nguyễn Khánh lúc đó chơi trò “cao bồi”, hai tay cầm hai khẩu súng lục, miệng nói: Cấm không ai được đến gần đây cả!&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;“Tiền!” Thật là khó coi? Chán mắt!&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;“Tôi lạnh lùng cho chiếc tàu của tôi trở về vị trí đóng quân, trong lòng tôi suy nghĩ miên man về thái độ cử chỉ của bọn họ. Tin ít mà ngờ nhiều.” [1]&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Câu chuyện về tài sản của Bình Xuyên được Tướng Thi kể lại có nhiều điểm khác với câu chuyện do Đại Tá Nguyễn Văn Y, cựu Tổng Giám Đốc Công An Cảnh Sát Quốc Gia, tường thuật lại dưới đây. Vì thế, một câu hỏi đã được đặt ra: Phải chăng đây là hai số tiền và vàng khác nhau? Chúng tôi tin rằng hai số tiền và vàng này chỉ là một, nhưng Tướng Thi chỉ được nghe nói hay nhìn thoáng qua nên không biết chính xác, còn Đại Tá Y là người đứng ra chỉ huy việc truy tìm số tài sản này nên câu chuyện được ông kể lại đầy đủ và chính xác hơn. Về sau, ông Diệm cũng chỉ ra lệnh điều tra về số tiền và vàng mà Đại Tá Y đã tìm được, chứ không nói gì đến số tiền và vàng mà Tướng Thi đã kể.&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Đại Tá Nguyễn Văn Y, cựu Tổng Giám Đốc Cảnh Sát Quốc Gia kiêm Đặc Ủy Trưởng Phủ Đặc Ủy Trưởng Trung Ương Tình Báo của VNCH đã tường thuật như sau:&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Lúc đó ông là Tỉnh Trưởng kiêm Tiểu Khu Trưởng Chợ Lớn, chỉ huy Tiểu Đoàn 184. Vào khoảng tháng 5 năm 1955, sau khi đánh đuổi quân Bình Xuyên chạy vào Rừng Sát, ông đã thả các nhân viên Phòng 2 đi thăm dò ven rừng. Các nhân viên này thấy một người đang ngồi câu cá trên một chiếc xuồng ở một khu vắng, dáng điệu rất khả nghi, nên bắt về thẩm vấn. Sau nhiều cuộc tra hỏi, người này thú nhận anh ta là một cận vệ của Bảy Viễn, được phái ở lại giữ hai thùng phuy vàng và bạc đã phải nhận chìm xuống nước trước khi chạy trốn. Ông đã cho thợ lặn xuống tìm nhưng không thấy. Nhân viên Phòng 2 tiếp tục phỏng vấn, người này quả quyết nơi anh ta làm dấu đúng là nơi đã nhận 2 thùng phuy xuống. Thấy thái độ quả quyết của anh này, ông cho thợ lặn xuống mò một lần nữa, nhưng trong một phạm vi rộng hơn. Quả nhiên, thợ lặn đã vớt được hai thùng này cách xa nơi đánh dấu khoảng 100 thước, vì bị nước cuốn trôi đi. Đây là thứ thùng phuy đựng dầu xăng loại 200 lít.&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Công cuộc kiểm tra cho thấy một thùng đựng bạc giấy, còn một thùng đựng vàng. Bạc giấy toàn là loại 500$, được gói trong những bao nilon nhỏ, có nhiều bao bị nước thấm nước. Ông bảo nhân viên đem số bạc ướt phơi khô rồi đưa tất cả đi nạp vào ngân khố. Còn thùng vàng được chở đến giao cho Đại Tá Dương Văn Minh, Quân Trấn Trưởng Sài Gòn. Tướng Nguyễn Khánh, lúc đó là Trung Tá Chỉ Huy Phó của Đại Tá Minh, cho biết số vàng này khi giao nạp đã được bỏ vào trong hai cái rương, nhưng rồi sau đó không còn nghe Dương Văn Minh nói gì về số vàng này.&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Ông Diệm đã ra lệnh cho Thẩm Phán Lâm Lễ Trinh, Biện Lý Tòa Sơ Thẩm Sài Gòn, và Thiếu Tá Mai Hữu Xuân, Giám Đốc An Ninh Quân Đội, mở cuộc điều tra vụ này.&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Ông Huỳnh Văn Lang, lúc đó là Bí Thư Liên Kỳ của Đảng Cần Lao và Tổng Giám Đốc Viện Hối Đoái, cho biết ông Lâm Lễ Trinh đã tiết lộ rằng khi được hỏi về số vàng này, Tướng Minh đã sừng sộ và giận dữ, nói rằng ông Diệm là người bội bạc, ông đã giúp ông Diệm đánh dẹp Bình Xuyên mà còn hỏi cái gì.&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Ông Lang cũng cho biết ông có được đọc bản báo cáo hai trang của Đại Tá Mai Hữu Xuân. Đại Tá Xuân chỉ xác nhận số vàng Tiểu Khu Chợ Lớn tịch thu được đã giao cho Đại Tá Dương Văn Minh cất giữ và đề nghị nên đem ra chia nhau! [2]&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Ông Cao Xuân Vỹ cho biết khi ông Nguyễn Ngọc Thơ đề nghị cho Tướng Dương Văn Minh chỉ huy Chiến Địch Đinh Tiên Hoàng để bắt Ba Cụt, ông Diệm đã nói với ông Nhu: “Thôi, cho nó số vàng đó đi cho yên!”&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&lt;br /&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;CHỨA CHẤP GIÁN ĐIỆP VIỆT CỘNG&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt; &lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Anh Nguyễn Tư Thái, tự là Thái Đen, Phụ Tá Trưởng Đoàn Công Tác Đặc Biệt, cho biết vào đầu năm 1960, nhân viên của Đoàn thấy một người thường lui tới nhà Dương Văn Minh, ở số 3 đường Trần Quý Cáp, Sài Gòn, nhưng mỗi lần đi ra, anh ta thường nhìn trước nhìn sau rất kỹ, thấy không có gì khả nghi mới bước ra. Những người bình thường không ai làm như vậy. Một hôm, đợi anh ta ra khỏi nhà Dương Văn Minh một khoảng xa, nhân viên tình báo liền bắt đẩy anh ta lên xe và đem về thẩm vấn. Lúc đầu anh ta nói anh ta chỉ là người đến dạy học cho các con của Tướng Minh. Tuy nhiên, sau nhiều cuộc thẩm vấn khéo léo, anh ta nhìn nhận anh ta là một ủy viên của Huyện Ủy Thủ Đức, được phái đến gặp Dương Văn Minh để lấy tin tức. Anh này đã bị giam giữ luôn, nhưng Dương Văn Minh không hay biết gì cả.&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Sau vụ này, Đoàn Công Tác Đặc Biệt và Tổng Nha Cảnh Sát đã bố trí thường trực chung quanh nhà Dương Văn Minh, theo dõi từng bước đi của những người ra vào nhà ông, quay phim và chụp hình. Điện thoại của nhà ông cũng bị nghe lén.&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Khoảng tháng 3 năm 1960, có một người có mặt mày và hình dáng rất gióng Dương Văn Minh, đã đến ở luôn trong nhà Dương Văn Minh và mỗi lần đi đâu thường được chính Dương Văn Minh chở đi. Sưu tra hồ sơ, nhân viên tình báo biết ngay đó là Dương Văn Nhựt, em của Dương Văn Minh, có bí danh là Mười Tỵ, hiện đang là Thiếu Tá trong bộ đội miền Bắc. Vợ của Dương Văn Nhựt hiện đang sống tại Sài Gòn. Theo dõi sát, nhân viên tình báo biết được Dương Văn Nhựt đang đi vận động Phật Giáo và sinh viên chống ông Diệm.&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Trong cuộc phỏng vấn ngày 16.10.2004, Đại Tá Nguyễn Văn Y cho biết khi vợ Dương Văn Nhựt có bầu gần sinh, Dương Văn Nhựt đã đưa vợ tới ở nhà của Trung Tá Dương Văn Sơn, em của Dương Văn Minh. Lúc đó Dương Văn Sơn đang làm trưởng phòng truyền tin của Biệt Khu Thủ Đô. Tướng Minh thường đến nhà Dương Văn Sơn nói chuyện với Dương Văn Nhựt. Vì thế, nhà Dương Văn Sơn cũng bị theo dõi như nhà Dương Văn Minh.&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Một hôm, Tổng Thống Diệm gọi ông và bảo đem tất cả hồ sơ vụ Dương Văn Minh vào gặp ông. Có lẽ trước đó Đoàn Công Tác Đặc Biệt đã trình nội vụ cho Tổng Thống biết rồi.&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Khi ông đem hồ sơ vào, Tổng Thống Diệm hỏi: “Dương Văn Minh có theo Cộng Sản không?” Rồi ông nói tiếp: “Võ Nguyên Giáp nhiều công trạng như rứa mà nay Cộng Sản chỉ mới cho lên Trung Tướng. Dương Văn Minh công trạng có bao nhiêu đâu mà nay đã lên Trung Tướng rồi, còn muốn gì nữa?”&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Đại Tá Y nói ông vốn là đàn em và là người quen biết với Tướng Minh nên chưa biết phải trả lời như thế nào. Tổng Thống liền đưa cho ông cái hộp quẹt và bảo đem tất cả hồ sơ ra đốt đi. Tổng Thống nói: “Mỹ mà nó biết được Trung Tướng của mình theo Việt Cộng thì xầu hổ lắm. Đốt hết đi! Từ rày tôi không muốn nhắc tới cái vụ này nữa.”&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Nhưng đốt hồ sơ rồi cũng chưa xong, nhân viên tình báo còn phải bắt Dương Văn Nhựt và dẫn ông ta ra chiến khu để ông ta đi qua Cambodia và trở về lại miền Bắc, với lời cảnh cáo: “Nếu trở lại sẽ bị thanh toán”. Câu chuyện này có lẽ Tổng Cục Phản Gián của Hà Nội không hề hay biết.&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Sau đó, ông Diệm đã bảo Đại Tướng Lê Văn Tÿ, Tổng Tham Mưu Trưởng, thông báo cho Tướng Minh biết từ nay ông ta chỉ có thể xử dụng các đơn vị cấp đại đội trở xuống mà thôi. Tướng Minh biết lý do tại sao, nhưng các cố vấn Mỹ không biết chuyện gì đã xẩy ra, nên rất thắc mắc. Họ nghĩ rằng ông Diệm sợ Tướng Minh làm đảo chánh nên mới hạn chế như vậy. Ngày 18.7.1962, ông Diệm thông báo cho Tướng Harkins biết ông quyết định hủy bỏ chức Tư lệnh Bộ Tư lệnh Hành quân của Tướng Minh vì ông ta “thiếu khả năng.” Ngày 8.12.1962 Trung Tướng Dương Văn Minh được cử làm Cố Vấn Quân Sự Phủ Tổng Thống, một chức vụ được coi như “ngồi chơi xơi nước”.&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Sau này, báo Tuổi Trẻ Chúa Nhật của Việt Cộng trong số ra ngày 1.9.1996, dưới đầu đề “Tướng Dương Văn Minh dưới mắt các nhà binh địch vận”, đã tường thuật lại mối quan hệ giữa Tướng Dương Văn Minh và người em là Dương Văn Nhựt như sau:&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;“Năm 1960, Mười Tỵ, thiếu tá thuộc Bộ Tổng Tham Mưu Quân Đội Nhân Dân Việt Nam - được lệnh về Nam nhận công tác đặc biệt. Nhiệm vụ của ông là quan hệ, tranh thủ người anh ở bên kia chiến tuyến, đại Tướng Dương Văn Minh. Sau khi vượt Trường Sơn vào Nam, Thiếu Tá Dương Văn Nhựt, tức Mười Tỵ, đã được Ban Binh Vận Trung Ương Cục tìm mọi cách đưa vào Sài Gòn. Thông qua một người em gái, ông Mười Tỵ đã đến được và ở lại nhà của Dương Văn Minh suốt một tuần lễ. Hai anh em ở hai phía chiến trận gặp gỡ hàn huyên. Bằng tình cảm gia đình, ông Mười Tỵ thuyết phục Tướng Minh. Từ đó, ông Mười Tỵ cứ phải đi về trong “vùng địch” hoặc ra nước ngoài để tiếp xúc và gặp gỡ anh mình. Khi Dương Văn Minh lưu vong ở Thái Lan, ông Mười Tỵ cũng được bố trí sang Thái Lan qua ngã Campuchia. Ông đến Nam Vang, sống trong nhà một Hoa kiều. Tại đó, trong vòng một tháng, ông vừa học bằng sách vở, vừa thực tập giao tiếp để nói tiếng Hoa hồng để nhập vai người đi buôn. Có khi từ Nam Vang ông phải bay lòng vòng sang Ý, rồi từ Ý được cơ sở Việt kiều đón về Pháp để móc nối chị dâu (vợ của Tướng Minh) từ Thái Lan qua liên lạc”.&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Bài báo viết thêm:&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;“Kể từ 1972, bộ đội bắt đầu mở nhiều trận đánh lớn, nên Mười Tỵ được lệnh không ra vùng địch và ra nước ngoài nữa vì “sợ rủi ro làm hỏng ý đồ chiến lược”, nên việc móc nối với Dương Văn Minh được giao cho Nguyễn Hữu Hạnh.”&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&lt;br /&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;BỊ BIẾN THÀNH TÊN ĐAO PHỦ CỦA MỸ&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt; &lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Vì không hiểu gì về thủ đoạn chính trị, Dương Văn Minh đã bị Hoa Kỳ biến thành tên đao phủ thanh toán Tổng Thống Ngô Đình Diệm, ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu và ông Ngô Đình Cẩn rồi sau đó loại bỏ.&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;1.- Giết Tổng Thống Ngô Đình Diệm và ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Biết Tướng Dương Văn Minh đang bất mãn với ông Diệm nên CIA thuyết phục ông ta làm đảo chánh lật đổ ông Diệm. Dương Văn Minh đồng ý ngay. Trên danh nghĩa, ông ta là người chỉ huy cuộc đảo chánh, nhưng bên trong CIA chỉ giao cho ông ta một nhiệm vụ duy nhất là thanh toán nhà Ngô. Còn việc lập kế hoạch và chỉ huy cuộc đảo chánh được trao cho Tướng Trần Thiện Khiêm.&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Khi tiến hành cuộc đảo chánh, Tướng Dương Văn Minh đã ra lệnh hạ sát Đại Tá Hồ Tấn Quyền, Tư Lệnh Hải Quân; Đại Tá Lê Quang Tung, Tư Lệnh Lực Lượng Đặc Biệt, và Thiếu Tá Lê Quang Triệu, Tham Mưu Trưởng Lực Lượng Đặc Biệt.&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Khi được ông Diệm báo tin đang ở nhà thờ cha Tam, Dương Văn Minh đã cho lập “toán hành quyết” đi đón và giết ông Diệm và ông Nhu. Toán này do Đại Tá Mai Hữu Xuân cầm đầu. Tướng Minh cho Đại Úy Nguyễn Văn Nhung, cận vệ của mình, đi theo làm sát thủ.&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Khi xác ông Diệm đưa về Tổng Tham Mưu, một quân cảnh cho biết chính mắt ông ta thấy Tướng Dương Văn Minh đã xuống lột quần ông Diệm ra xem có “chim” hay không.&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Tướng Trần Văn Đôn cho biết khi hay tin hai ông đã chết, ông rất xúc động và đến hỏi Dương Văn Minh:&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;- Tại sao hai ông ấy chết?&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Ông Minh có vẽ khó chịu, trả lời bằng tiếng Pháp: Ils sont morts! Ils sont morts! (Mấy ông ấy chết rồi, thì chết rồi) [3]&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;2.- Giết ông Ngô Đình Cẩn&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Chính Tướng Nguyễn Khánh đã cho soạn thảo và ban hành Sắc Luật số 4/64 ngày 28.2.1964 thiết lập Toà Án Quân Sự đưa ra những quy định trái với nguyên tắc bất hồi tố của hình luật, và cử nhóm tay chân bộ hạ vào làm “phán quan” để tuyên án tử hình ông Cẩn. Sắc Luật lại quy định rằng các bị cáo không có quyền kháng cáo hay thượng tố. Bị cáo bị án tử hình có thể đệ đơn xin ân xá lên Quốc Trưởng trong thời hạn 24 tiếng đồng hồ. Trong trường hợp phạm nhân bị xử tử hình đã đệ đơn ân xá, án tử hình sẽ thi hành trong hạn 5 ngày kể từ khi tuyên án, nếu trong hạn đó, đơn xin ân xá không được chấp thuận. Những sự quy định này nhắm gài Tướng Dương Văn Minh, lúc đó đang là Quốc Trưởng bù nhìn, vào cái thế phải chịu trách nhiệm giết ông Cẩn.&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Mặc dầu đứng đàng sau Tướng Khánh trong vụ làm luật giết ông Cẩn và biết chắc ông Cẩn phải bị giết, Đại Sứ Cabot Lodge giả vờ đứng ra làm con thoi, đề nghị Tướng Minh ân xá cho ông Cẩn. Tướng Minh biết mình bị gài nên nói với Đại Sứ Lodge: “Khánh luôn luôm tìm cách đặt tôi vào tình trạng khó khăn (He always tries to put me in the difficult position). Tôi sẽ bị cả nước thù ghét và tố cáo nếu tôi ân xá Cẩn.” Đại Sứ Lodge nhận xét: “Rõ ràng là Khánh đang sắp xếp các sự việc để cho Minh gánh lấy tất cả trách nhiệm nếu không hành quyết Cẩn.”&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Hôm 5.5.1964 Tướng Dương Văn Minh đã ký quyết định bác đơn xin ân xá của ông Cẩn và trở thành tên sát thủ ông Cẩn!&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&lt;br /&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;BỊ ĐƯA RA LÀM HÀNG TƯỚNG&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt; &lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Vào tháng 4 năm 1975, Hoa Kỳ thấy tình hình miền Nam Việt Nam không còn cứu vãn được, nên đã sắp xếp cho miền Nam đầu hàng Bắc Việt để tránh sự đổ máu quá nhiều. Biết Tướng Dương Văn Minh có liên lạc với Việt Cộng, Đại Sứ Martin của Mỹ đã phối hợp với Đại Sứ Merillon của Pháp thuyết phục Tướng Thiệu từ chức và lừa Tướng Dương Văn Minh ra làm hàng tướng bằng cách tạo cho ông một ảo vọng rằng chỉ có ông mới có thể nói chuyện với “phía bên kia” để hình thành một “chính phủ liên hiệp Quốc – Cộng!”&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Trong cuốn Decent Interval, Frank Snepp, một phân tích viên của CIA ở Saigon lúc đó, nói rằng tại miền Nam lúc đó, không ai tin Hà Nội có thể chấp nhận một giải pháp khi họ đang trên đà chiến thắng. Ông Vũ Văn Mẫu cũng đã nhận ra được điều đó nên khi gặp Đại Sứ Merillon, ông đã nói với ông Đại Sứ bằng tiếng Latin rằng nếu giải pháp một chính phủ liên hiệp không thành thì xin giúp ông được ra đi.&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt; &lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Frank Snepp cho biết thêm:&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;“Khi tôi đang bận đánh máy bản báo cáo thì Polgar ở trong phòng riêng với các viên chức khác của Trạm Tình Báo (Toà Đại Sứ) thảo luận về việc chuyển giao nhanh quyền hành. Một khi Thiệu từ chức, Phó Tổng Thống Trần Văn Hương phải trao quyền hành ngay lập tức cho Minh “Lớn”, và Quốc Hội phải sẵn sàng chấp thuận sự chuyển giao, để sự chuyển giao đó có thể được thực hiện “một cách hợp hiến” (nhấn mạnh của Đại Sứ Martin) và “nhanh chóng”. [4]&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Sau khi ép buộc Tướng Nguyễn Văn Thiệu từ chức Tổng Thống, Mỹ thúc đẩy Phó Tổng Thống Trần Văn Hương trao quyền lại cho Tướng Dương Văn Minh để đầu hàng Việt Cộng, nhưng ông Trần Văn Hương không hiểu gì về tình hình lúc đó nên tìm cách cù cưa. Ông bí mật đến gặp Tướng Minh và yêu cầu Tướng Minh làm Thủ Tướng, nhưng Tướng Minh từ chối. Tuy nhiên, do sự thúc đẩy của CIA và một số nhân vật chính trị, cuối cùng ông cũng đồng ý trao quyền cho Tướng Minh với điều kiện phải có sự quyết định của Quốc Hội.&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt; &lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Ngày 26.4.1975 lưỡng viện Quốc Hội đã họp tại Thượng Viện dưới quyền chủ toạ của ông Trần Văn Lắm, Chủ Tịch Thượng Viện, để đưa Tướng Dương Văn Minh lên làm Tổng Thống. Có 136 trong số 219 nghị sĩ và dân biểu đến họp. Sau khi Đại Tướng Cao Văn Viên, Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Lực VNCH, và Tướng Nguyễn Khắc Bình, Tổng Giám Đốc CSQG trình bày về tình hình, Quốc Hội bắt đầu thảo luận về việc trao quyền cho Tướng Dương Văn Minh. Có rất nhiều sự bất đồng về việc trao quyền, nhiều người cho rằng sự trao quyền này là bất hợp hiến. Nhưng các nhóm vận động hậu trường đã hoạt động rất ráo riết nên cuối cùng, lúc 20 giờ 54 phút, Quốc Hội đã biểu quyết chấp thuận trao quyền cho Tướng Dương Văn Minh với số phiếu 147/151.&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Chiều 28.4.1975, Tướng Dương Văn Minh đã nhận chức Tổng Thống. Lễ bàn giao được diễn ra tại Phòng Khánh Tiết của Dinh Độc Lập.&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Cũng trong chiều 28.4.1975, Đô Đốc Chung Tấn Cang, Tư Lệnh Hải Quân, vào Dinh Hoa Lan gặp Tướng Minh cho biết tình hình và hỏi Tướng Minh có định ra đi không. Tướng Minh cho con gái là Dương Mai, con rễ là Đại Tá Nguyễn Hồng Đài và hai cháu ngoại lên tàu di tản với Đô Đốc Cang, còn ông và bà Minh ở lại.&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Đêm 29.4.1975, Tướng Minh vào ngũ trong Dinh Độc Lập để tránh pháo kích. Lúc đó, ông chỉ còn hy vọng Thượng Tọa Thích Trí Quang, người hứa sẽ đưa người “phía bên kia” đến thương lượng để thành lập chính phủ liên hiệp. Tướng Nguyễn Hữu Có kể lại lúc 4 giờ 35 sáng ngày 30.4.1975, Thích Trí Quang đã nói với Dương Văn Minh qua điện thoại:&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;“Thưa Tổng Thống, cũng như Tổng Thống là tôi vẫn chờ đến giờ nầy và theo tôi nghĩ có lẽ với tình thề hiện tại, trong sứ mạng của tôi, người đứng trung gian bắc nhịp cầu của thế cờ chính trị, có thể nói là chấm dứt. Với trọng trách là Tổng Thống, hơn nữa là một Đại Tướng, tôi nghĩ công việc phải nhờ vào tài quân sự của Đại Tướng, chứ giải pháp chính trị của tôi coi như chấm dứt, và từ giờ phút này nếu có chuyện gì xẩy đến thì mọi trách nhiệm đều do Tổng Thống, à quên Đại Tướng quyết định với giải pháp quân sự, mà trong lãnh vực này Đại Tướng rất rành và giỏi hơn tôi. Xin chào Tổng Thống...”&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Dương Văn Minh chỉ trả lời gọn một câu: “Thầy giết tôi rồi!” và cúp máy điện thoại.&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Lúc đó là 4 giờ 45 phút sáng.&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Frank Snepp kể lại, sau đó Tướng Minh đi đi lại lại một cách bực dọc (nervously) trong dinh Độc Lập trống vắng. Đoàn sứ giả đi thương lượng ở Tân Sơn Nhứt không thấy về. Có người khuyên ông nên tuyên bố đầu hàng vô điều kiện, nhưng ông không đồng ý. Ông nói rất nhiều đồng bào của ông sẽ khinh ông. (Too many of his countrymen would think ill of him). Ông muốn hoản lại chuyện này cho đến khi nội các được thành lập. Khi đó ít ra những người khác phải chia xẻ sự sỉ nhục.[5]&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Lúc 8 giờ 30, ông đến Phủ Thủ Tướng thảo luận lại thành phần chính phủ của Vũ Văn Mẫu rồi quay về dinh Độc Lập làm lễ ra mắt.&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Lúc 10 giờ 15 sáng ngày 30.4.1975, khi thấy không còn gì để hy vọng nữa, Dương Văn Minh lên tiếng trên đài phát thanh Sài Gòn kêu gọi quân nhân, cảnh sát và các lực lượng bán quân sự “giữ vị trí, buông súng để bàn giao chính quyền trong vòng trật tự”. Lúc 11 giờ 30, chiếc xe tăng Cộng Sản đầu tiên loại T-54 tiến trên đại lộ Thống Nhứt về phía Dinh Độc Lập, ủi sập cổng, sau khi bắn hai phát đại bác long trời lở đất. Tiếng chân chạy ồn ào trong đại sảnh, có tiếng đạn lên nòng, một khẩu lệnh vang lên: “Mọi người đi ra khỏi phòng ngay!” Dương Văn Minh là người bước ra đầu tiên, Thiếu Tá tùy viên Hoa Hải Đường đi bên cạnh, phía sau là Vũ Văn Mẫu, Nguyễn Văn Huyền... Nhiều bộ đội ở đầu kia đại sảnh hét to: “Mọi người giơ hai tay lên!”. Dương Văn Minh, Vũ Văn Mẫu và đoàn tùy tùng nhất loạt tuân lệnh.&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Hai ông Minh và ông Mẫu được đưa đến đài phát thanh Sài Gòn để đọc lời đầu hàng. Nhưng khi hai ông vào bên trong đài phát thanh thì không còn nhân viên kỹ thuật nào ở đó để làm công việc thu băng. Sinh viên Nguyễn Hữu Thái phải mất hai tiếng mới tìm ra nhân viên kỹ thuật. Bản tuyên bố đầu hàng do chính trị viên Bùi Văn Tùng thảo, ông Minh đọc và đài phát thanh phát đi vào lúc 13 giờ 30.&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Tính lại, Dương Văn Minh đã làm Tổng Thống không tới 40 tiếng đồng hồ: Nhận chức vào chiều 28 tại Dinh Độc Lập đến trưa 30.4.1975 đã tuyên bố đầu hàng!&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&lt;br /&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;NHÌN LẠI CON NGƯỜI CỦA DƯƠNG VĂN MINH&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt; &lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Tướng Nguyễn Chánh Thi tiết lộ rằng khi còn ở Pháp, Tướng Dương Văn Minh có gởi cho ông một lá thư đề ngày 15.4.1987, trong đó có đoạn như sau:&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;"Thi,&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;“Được tin Thi tôi rất mừng. Lúc nào tôi cũng nhớ anh em thuở xưa, mà tôi còn lưu lại rất nhiều kỷ niệm.&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;“Từ khi tôi đến nước Pháp tới nay, lật bật đã gần sáu năm rồi, sống với một cuộc đời réfugié tuy có thong thả nhưng lúc nào cũng bận tâm. Thoát được chế độ Cộng sản với hai bàn tay không - Pháp chẳng giúp đỡ gì - mình sống ẩn thân trong một đô thị thật nhỏ, kể ra cũng tạm yên.&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;“Nghe Thi kể chuyện các anh em quân nhân, tôi rất khổ tâm. Lúc đó tôi bị đày ở Bangkok cho nên có nhiều việc tôi không được rõ hết.&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;“Anh em có đọc sách của anh Đỗ Mậu kể chuyện lại cho tôi nghe; tôi phải công nhận anh Đỗ Mậu kể chuyện như vậy là rất can đảm. Lên án Cần-lao và Công-giáo đến mức đó là cùng. Ngoài ra, anh Đỗ Mậu có trách tôi không biết tự tử như các bực tiền bối, cũng có phần đúng. Nhưng đây chỉ là một vấn đề quan niệm mà thôi.&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;“Theo tôi, tự tử không phải lúc nào cũng là đúng. Đôi khi mình phải dám sống để hứng nhận những hậu quả cho sự quyết định của mình gây ra...”&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Thân phận của Tướng Minh đã bị Hoa Kỳ biến thành một cái mền rách, nhưng vì quá yếu kém về chính trị, nên cho đến khi gần tới giờ về cỏi âm, ông vẫn chưa nhận ra được! Lãnh đạo mà như thế, mất miền Nam là chuyện không có gì đáng ngạc nhiên.&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Nhìn lại con người của Dương Văn Minh, chúng ta thấy có 3 đặc điểm sau đây:&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt; &lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Thứ nhất là tham nhũng và thiếu trách nhiệm:&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;(1) Biển thủ một thùng phuy vàng lấy được của Bình Xuyên và một số tiền bạc thu được sau cuộc đảo chánh 1.11.1963. Cho một tay chân bộ hạ nổi tiếng tham những là Tướng Mai Hữu Xuân kiêm ba chức quan trọng cùng một lúc để truy lùng tài sản và khảo của các viên chức chế độ cũ, đó là Tổng Giám Đốc Cảnh Sát Quốc Gia, Đặc Ủy Trưởng Phủ Đặc Ủy Trung Ương Tình Báo và Đô Trưởng Sài Gòn. Tướng Xuân đã nhận cả tiền của Việt Cộng để thả các cán bộ cao cấp của Việt Cộng ra.&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;(2) Không quan tâm đến tình hình miền Nam sau cuộc đảo chánh và có quyết định sai lầm: Ra lệnh phá hủy các ấp chiến lược đã được thiết lập để đối phó với Cộng Sản, đưa miền Nam tới bờ vực thẳm khiến Hoa Kỳ phải thực hiện “Pentagon’s coup” để lật đổ và đưa quân vào miền Nam cứu vãn tình thế.&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Thứ hai là ngố:&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Mặc dầu làm việc với Hoa Kỳ và hành động theo sự xúi biểu của Hoa Kỳ, ông không hiểu gì về chính sách và thủ đoạn của Hoa Kỳ trong từng giai đoạn, nên đã bị Hoa Kỳ biến thành công cụ:&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;(1) Ông bị biến thành một tên sát thủ giết Tổng Thống Ngô Đình Diệm, ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu và ông Ngô Đình Cẩn thay cho người Mỹ khi Hoa Kỳ muốn thay đổi chính sách. Nhưng chỉ một thời gian ngắn sau đó ông bị Hoa Kỳ loại và đưa những tay chân bộ hạ của CIA lên cầm quyền.&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;(2) Khi Miền Nam sắp sụp đổ, ông bị Hoa Kỳ lường gạt bằng chiêu bài “hoà giải hoà hợp” để đưa ông ra làm Hàng Tướng!&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Thứ ba là hèn:&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;(1) Thiếu Tá Nguyễn Văn Nhung, cận vệ thân tín của ông, được ông phái đi giết Đại Tá Lê Văn Tung và Thiếu Tá Lê Văn Triệu, sau đó hạ sát ông Diệm và ông Nhu. Ấy thế mà sáng 30.1.1964, khi linh Nhảy Dù bắt Thiếu Tá Nhung trước mặt ông và dẫn đi, rồi tối hôm đó hạ sát, ông chẳng có một lời nào!&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;(2) Sáng ngày 30.4.1975, bộ chỉ huy 3 chiến thuật của Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù đang quần thảo với Việt Cộng trước cổng Bộ Tổng Tham Mưu ở Lăng Cha Cả thì Tổng Thống Dương Văn Minh ra lệnh đầu hàng. Thiếu Tá Phạm Châu Tài, chỉ huy trưởng bộ chỉ huy 3 chiến thuật, đã nói chuyện với Tổng Thống Dương Văn Minh qua điện thoại:&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;- Tôi là chỉ huy trưởng cánh quân đang tử chiến với Việt Cộng ở Bộ Tổng Tham Mưu, tôi đang cố liên lạc với Bộ Tổng Tham Mưu thì lệnh ngưng chiến đã ban ra và quân của Việt Cộng vẫn còn đang tiến về thủ đô. Tôi vào trong Bộ Tổng Tham Mưu thì không còn một tướng lãnh nào ở đây, họ đã bỏ chạy hết, do đó tôi muốn nói chuyện với Tổng Thống để xin quyết định.&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Tổng Thống Minh trả lời:&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;- Các em chuẩn bị bàn giao đi.&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Thiếu Tá Tài hỏi lại:&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;- Có phải là đầu hàng không?&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Tổng Thống Minh trả lời:&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;- Đúng vậy, ngay bây giờ xe tăng của Việt Cộng đang tiến vào Dinh Độc Lập.&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Thiếu Tá Tài nói:&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;- Nếu xe tăng của Việt Cộng tiến về Dinh Độc Lập thì chúng tôi sẽ đến cứu Tổng Thống. Nếu Tổng Thống ra lệnh đầu hàng thì Tổng Thống có chịu trách nhiệm với hơn 1000 quân đang tử chiến ở Bộ Tổng Tham Mưu hay không?"&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Tổng Thống Minh trả lời:&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;- Tùy ý các anh em.&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Nói xong cúp máy!&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;(3) Ký giả Borries Gallasch, phóng viên tờ Der Spiegel của Đức, người ký giả ngoại quốc duy nhất có mặt trong Dinh Độc Lập vào sáng 30.4.1975, đã kể lại thái độ của Tướng Dương Văn Minh khi đối diện với các bộ đội cộng sản đến bắt ông đầu hàng như sau: Đại Tướng Dương Văn Minh im lặng. Dưới chiếc mũ cối, những người lính bộ đội nhìn ông Minh với vẻ tò mò... Cuối cùng ông Minh đã lên tiếng, hỏi một người lính: “Em trai của tôi hiện nay ra sao? Khi nào tôi có thể gặp chú ấy?”.&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Làm tướng mà phải đầu hàng là nhục rồi, nhưng lại còn hèn hơn nữa khi nói mé cho những tên bộ đội nhỏ bé của Cộng quân biết rằng ông có người em theo Việt Cộng là Dương Văn Nhựt để chứng tỏ ta đây cũng thuộc “gia đình Cách Mạng”!&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&lt;br /&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;NHỮNG NGÀY CUỐI CÙNG&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Ngày 8.8.1983, Dương Văn Minh, được chính quyền Hà Nội cho phép di cư sang Pháp và sống với hai người con trai là Dương Minh Đức và Dương Minh Tâm. Khoảng năm 1988, ông âm thầm qua Pasadena, Nam California, Hoa Kỳ, và sống với con gái là Dương Mai đang định cư ở đó. Trong những những ngày còn lại của cuộc đời, Tướng Dương Văn Minh phải sống trong bóng tối, không dám gặp cộng đồng người Việt tại đây.&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Ngày 5.8.2001, ông bị té từ xe lăn, được đưa vào bệnh viện Huntington Memorial Hospital và qua đời ngày hôm sau, hưởng thọ 86 tuổi. Linh cữu ông cũng được phủ cờ vàng ba sọc đỏ, được di chuyển lên xe bởi 6 người thân gồm các ông Hoa Hải Đường, Nguyễn Hồng Đài, Trịnh Bá Lộc, Hoa Hải Thọ, Ngô Long và Nguyễn Trí Dũng. Sau đó, linh cửu ông đã được hoả thiêu trưa thứ bảy 18.8.2001 vào lúc 12 giờ tại vãng sanh đường Skyrose thuộc nghĩa trang Rose Hill, Nam California.&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&lt;br /&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Lữ Giang&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;26.4.2009&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&lt;br /&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Ghi chú:&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;[1] Nguyễn Chánh Thi, Việt Nam: Một trời tâm sự, Xuân Thu, Hoa Kỳ 1987, tr. 27 và 28.&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;[2] Huỳnh Văn Lang, Nhân chứng một chế độ, Tập II, California, Hoa Kỳ, tr. 66 – 70.&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;[3] Trần Văn Đôn, Việt Nam nhân chứng, Xuân Thu, California, Hoa Kỳ 1989, tr. 231.&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;[4] Frank Snepp, Decent Intreval, Random House, New York, 1977, tr. 382 – 383.&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;[5] Frank Snepp, Decent Intreval, Random House, New York, 1977, tr. 540.&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;div class="separator" style="clear: both; text-align: center;"&gt;&lt;a href="http://3.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/S4YggLCu63I/AAAAAAAAKhk/vCudrOiAXk8/s1600-h/75duongvanminh.jpg" imageanchor="1" style="margin-left: 1em; margin-right: 1em;"&gt;&lt;img border="0" height="400" src="http://3.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/S4YggLCu63I/AAAAAAAAKhk/vCudrOiAXk8/s400/75duongvanminh.jpg" width="357" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;div style="color: #274e13;"&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="font-size: large;"&gt;Hồ sơ về Tướng Dương Văn Minh (tài liệu mật của CSVN)&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="color: #274e13;"&gt;&lt;b&gt;&lt;br /&gt;&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="color: #274e13;"&gt;&lt;b&gt;THÂN THẾ VÀ GIA ĐÌNH&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="color: #274e13;"&gt;&lt;b&gt;- Ông Dương Văn Minh sinh năm 1916 tại xã Phú Mỹ quận Bến Tranh tỉnh Định Tường (Mỹ Tho). Cha là ông Dương Văn Huề, khi đi học mướn lấy tên là Dương Văn Mau (tên của người bà con), làm thầy giáo, sau làm tri phủ, rồi đốc phủ sứ (hàm)&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="color: #274e13;"&gt;&lt;b&gt;Ông Dương Văn Huề (gốc Hoa) và bà Nguyễn Thị Kỹ có bảy người con:&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="color: #274e13;"&gt;&lt;b&gt;bốn trai, ba gái. Ông Minh là con cả. Dương Thanh Nhựt là con trai kế, có tham gia hoạt động cách mạng từ trước Cách mạng tháng Tám (năm 1944) và suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, là đại tá Quân đội nhân dân Việt Nam . Dương Thanh Sơn, em trai thứ năm, là sĩ quan chế độ cũ.&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="color: #274e13;"&gt;&lt;b&gt;Gia đình ông Minh theo đạo Phật, lễ giáo, nề nếp.&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="color: #274e13;"&gt;&lt;b&gt;- Năm 1940, Dương Văn Minh học trường đào tạo hạ sĩ quan và sĩ quan dự bị của Pháp. Năm 1942 vào quân đội Pháp.&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="color: #274e13;"&gt;&lt;b&gt;&lt;br /&gt;&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="color: #274e13;"&gt;&lt;b&gt;Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, Dương Văn Minh tham gia lực lượng vũ trang cách mạng chống Pháp xâm lược. Pháp trở lại, gia đình ông Minh tản cư về Chợ Đệm (thuộc quận Bình Chánh tỉnh Gia Định). Lần đó, ông về thăm nhà, đơn vị rút đi, ông bị kẹt lại chưa tìm được đơn vị thì bị Tây bắt, buộc ông trở lại làm việc cho quân đội Pháp. Năm 1946, Dương Văn Minh là thiếu úy, đại đội phó quân đội Pháp. Lần lượt lên đến cấp tá, rồi qua Pháp học trường võ bị, là một trong những sĩ quan đầu tiên của quân đội “Việt Nam Cộng Hoà”.&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="color: #274e13;"&gt;&lt;b&gt;Ông Minh cũng theo đạo Phật, nhân từ, thương người. Sợ sát sinh, sợ phải giết người. Thấy ai bị nạn thì ra tay cứu như can thiệp cho em trai bà Bùi Thị Mè (1)là thiếu tá chế độ cũ bị tình nghi hoạt động cho “Việt Cộng” được thả ra; giúp ông Nguyễn Minh Triết (Bảy Trung), cán bộ của ta và là em bạn dì ruột bị địch bắt giam ở nhà lao Phú Lợi, được ra tù…&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="color: #274e13;"&gt;&lt;b&gt;- Ông Minh là người rất tự trọng. Sau ngày 30/4/1975, ông được về nhà (98 đường Hồng Thập Tự, nay là đường Nguyễn Thị Minh Khai, Quận 3) sống với tư cách một “công dân của một nước độc lập” (2). Đời sống khó khăn, ông lại bị bệnh tiểu đường, bị đau dạ dày. Có lúc lãnh đạo Thành phố (đồng chí Võ Văn Kiệt) nhờ bà Bùi Thị Mè gợi ý khéo là Đảng và chính quyền thành phố muốn hỗ trợ ông trong cuộc sống. Nhưng ông Minh từ chối với lý do: “Các anh các chị sống được thì tôi cũng sống được nếu chưa quen thì phải tập lại cho quen”.&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="color: #274e13;"&gt;&lt;b&gt;Năm 1983, ông Minh được Chính phủ ta chấp thuận để ông sang Pháp trị bệnh và thăm con. Toà Tổng Lãnh sự Pháp ở Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Bộ Ngoại giao Pháp giúp ông Minh vé máy bay và tiền gửi hành lý nhưng ông Minh từ chối, nói rằng “đã có Chính phủ Việt Nam lo rồi”.&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="color: #274e13;"&gt;&lt;b&gt;Khi đi, ông Minh chỉ xin mang theo một ít đồ cổ trong nhà. Sang Pháp, ông không nhờ vả gì Chính phủ Pháp, không xin trợ cấp xã hội Pháp.&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="color: #274e13;"&gt;&lt;b&gt;&lt;br /&gt;&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="color: #274e13;"&gt;&lt;b&gt;QUÁ TRÌNH BINH ĐỊCH VẬN ĐỐI VỚI TƯỚNG DƯƠNG VĂN MINH&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="color: #274e13;"&gt;&lt;b&gt;Công tác binh địch vận đối với tướng Dương Văn Minh bắt đầu từ năm 1962, với nhiều lực lượng, nhiều ban ngành tham gia: Binh vận Trung Ương Cục, Tình báo, An ninh T4 (Sài Gòn - Gia Định), Trí vận…&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="color: #274e13;"&gt;&lt;b&gt;1/ Ban binh vận Trung Ương Cục miền Nam&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="color: #274e13;"&gt;&lt;b&gt;Năm 1960, theo yêu cầu của Ban binh vận Xứ ủy Nam bộ (sau này là Trung Ương Cục miền Nam), đồng chí Võ Văn Thời, Cục trưởng Cục địch vận Tổng Cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam đề nghị và được cấp trên đồng ý điều động đồng chí Dương Thanh Nhựt (3) về Cục để giao nhiệm vụ về miền Nam vận động Dương Văn Minh. Đồng chí Nhựt được đặt bí danh là Mười Ty. Cuối tháng 12/1960, đồng chí Mười Ty lên đường.&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="color: #274e13;"&gt;&lt;b&gt;Tháng 8/1962, đồng chí Mười Ty móc được với gia đình, trước hết là với ông Nguyễn Văn Di, cậu ruột; qua cậu, móc vợ là Sử Thị Hương, nhắn vợ về thăm mẹ và tìm hiểu thái độ của anh hai Dương Văn Minh. Sau đó Mười Ty thăm em trai là Dương Thanh Sơn, sĩ quan quân đội Sài Gòn và em thứ tám là Dương Thu Vân.&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="color: #274e13;"&gt;&lt;b&gt;Thấy tình hình thuận lợi, đồng chí Mười Ty hướng dẫn cán bộ mật đem ý kiến của lãnh đạo trao đổi với Dương Văn Minh về việc đảo chính Chính phủ Ngô Đình Diệm. Trong lúc Tướng Minh đang bực tức Ngô Đình Diệm độc tài, gia đình trị, phủ nhận công lao của mình (tảo thanh Bình Xuyên và các giáo phái Hoà Hảo). Tướng Minh hứa sẽ tìm cách làm.&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="color: #274e13;"&gt;&lt;b&gt;Ngày 01/01/1963, Trung tướng Dương Văn Minh nhân danh Chủ tịch Hội đồng quân nhân cách mạng phát lệnh đảo chính Chính phủ Ngô Đình Diệm và lên làm Quốc trưởng Việt Nam Cộng Hòa lần thứ nhất. Đồng chí Mười Ty nắm được ý định Tướng Minh chuẩn bị đảo chính Diệm và có báo cáo về Ban binh vận Trung Ương Cục.&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="color: #274e13;"&gt;&lt;b&gt;Sau cuộc đảo chính Ngô Đình Diệm một thời gian, đồng chí Mười Ty có vào nhà Dương Văn Minh (98 Hồng Thập Tự, nay là đường Nguyễn Thị Minh Khai), sau đó qua nhà em là Dương Thanh Sơn ở mười ngày. Qua nhiều lần gặp và trao đổi với Dương Văn Minh, đồng chí Mười Ty cho rằng Tướng Minh trước đây mơ hồ về Mỹ là tên xâm lược, nay thì hết tranh cãi về điều này, nhưng vẫn còn cho là Mỹ có giúp đỡ miền Nam. Tướng Minh hứa hủy bỏ ấp chiến lược, cho nhân dân về nhà cũ với ruộng vườn, mồ mả ông bà.&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="color: #274e13;"&gt;&lt;b&gt;Trong thời gian làm Quốc trưởng lần thứ nhất. Dương Văn Minh có một số hành động tiến bộ có lợi cho cách mạng:&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="color: #274e13;"&gt;&lt;b&gt;+ Quyết định hủy bỏ 16.000 ấp chiến lược. Đại sứ Mỹ Cabot Lodge hỏi Dương Văn Minh vì sao làm thế? Ông trả lời, đại ý: Người Việt Nam có phong tục tập quán riêng, không người nào muốn xa rời mảnh đất đã gắn bó đời mình và mồ mả ông cha. Dồn dân vào ấp chiến lược là chủ trương sai, vì lẽ đó tôi giải tán ấp chiến lược để người dân trở về quê cũ của mình.&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="color: #274e13;"&gt;&lt;b&gt;+ Bộ trưởng quốc phòng Mỹ Mc Namara và Tướng Harkin yêu cầu Quốc trưởng Dương Văn Minh để cho Hoa Kỳ ném bom ra miền Bắc, không ném ồ ạt mà ném bom nổ chậm trên đê sông Hồng. Miền Bắc sẽ bị lũ lụt mất mùa, người dân sẽ đói… Dương Văn Minh lắc đầu từ chối.&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="color: #274e13;"&gt;&lt;b&gt;+ Tháng 1/1964, Đại sứ Cabot Lodge yêu cầu Quốc trưởng Dương Văn Minh nghiên cứu, chuẩn y và thực hiện kế hoạch 34A (hoạt động gián điệp, biệt kích chống miền Bắc). Dương Văn Minh không trả lời.&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="color: #274e13;"&gt;&lt;b&gt;+ Theo lời kêu gọi của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam (4) Dương Văn Minh tỏ ý muốn thương lượng để tuyển cử tự do, thực hiện một chế độ trung lập, lập Chính phủ liên hiệp. Nhưng Mỹ cự tuyệt hòa đàm, chống mọi xu hướng trung lập.&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="color: #274e13;"&gt;&lt;b&gt;- Do những chủ trương và hành động của Dương Văn Minh không theo đúng ý đồ “Bắc tiến” của Mỹ, theo chỉ thị của Tổng thống Mỹ Johnson, cuối tháng 01/1964, chính quyền Mỹ đã đưa Nguyễn Khánh lên làm Chủ tịch Hội đồng quân nhân cách mạng kiêm Thủ tướng Chính phủ Cộng Hòa Việt Nam bằng một cuộc đảo chính. Nguyễn Khánh tuyên bố: “Tôi đảo chánh Dương Văn Minh để cứu đất nước này khỏi rơi vào tay Cộng sản”.&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="color: #274e13;"&gt;&lt;b&gt;Mỹ thấy Dương Văn Minh có hậu thuẫn ở miền Nam, nhưng khó điều khiển nên chỉ thị cho Chính quyền Sài Gòn phong Dương Văn Minh làm đại tướng và cử làm đại sứ lưu động ở Đài Loan. Mỹ mời ông Minh qua Mỹ một thời gian rồi cho lưu vong ở Thái Lan (từ đầu năm 1965) có sự giám sát của CIA, làm con bài dự trữ.&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="color: #274e13;"&gt;&lt;b&gt;Cuối năm 1967, theo chỉ đạo của đồng chí Mười Cúc (Nguyễn Văn Linh, Phó Bí thư Trung Ương Cục miền Nam) và Ban binh vận Trung Ương Cục, đồng chí Mười Ty có chuyến qua Pháp, ở nhà em rể là Charlot để móc người em gái thứ 8 là Dương Thu Vân qua Pháp. Có thời gian Mười Ty ở nhà Dương Minh Đức (con trai Dương Văn Minh). Được biết, khi người em gái thứ 6 Dương Thu Hà bị ung thư chết, Dương Văn Minh có qua Pháp dự đám tang em gái, sau đó ở lại Pháp hơi lâu, có ý chờ tin của Mười Ty. Nhưng vì bọn CIA bảo trung tá Đẩu (sĩ quan tùy viên của Tướng Minh) kêu ông Minh về Thái Lan, nên không ở lâu hơn được nữa.&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="color: #274e13;"&gt;&lt;b&gt;Khi chị Dương Thu Vân qua Paris gặp Mười Ty cho hay là ông Minh không thể qua Pháp được nữa, thì Mười Ty mới chuyển kế hoạch qua em (Dương Thu Vân) và cháu (Dương Minh Đức) truyền đạt ý kiến của cấp trên cho Dương Văn Minh. Sau đó Đức báo lại ý kiến của cha anh với Mười Ty như sau: “Lập Chính phủ ba thành phần là khó lắm, cần đánh cho văng Thiệu, Mỹ phải rút đi là hết chiến tranh. Tôi có ra làm chính phủ ba thành phần khi bầu cử thì ông Thọ (Luật sư Nguyễn Hữu Thọ) cũng thắng cử, tôi có thất cử cũng không nghĩa lý gì, miễn có lợi cho đất nước là hơn”. Dương Minh Đức nói thêm: Ba cháu không còn lực lượng, không biết làm chính trị, không giỏi bằng ông Thọ; ra ngoài (ra khu) lúc này là không có lợi, ở trong này khi cần có lợi hơn…&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="color: #274e13;"&gt;&lt;b&gt;Sau đó, đồng chí Mười Ty về Hà Nội, được đồng chí Lê Duẩn gặp và mời cơm (với đồng chí Võ Văn Thời). Sau khi nghe đồng chí Mười Ty báo cáo đầy đủ chuyến đi công tác ở Pháp, đồng chí Lê Duẩn khen và nói: “Dương Văn Minh trả lời như vậy là thành thật, nói như vậy là làm được, chứ hứa hết có khi không làm được…”&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="color: #274e13;"&gt;&lt;b&gt;Cuối năm 1970,… theo chỉ đạo của Trung Ương và Trung Ương Cục miền Nam, Ban binh vận Trung Ương Cục tìm một người khác, để tiếp cận vận động Dương Văn Minh. Đó là chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh, cơ sở của ta trong sĩ quan là bạn bè và thầy trò có thể tiếp cận được với Dương Văn Minh. Đồng chí Nguyễn Tấn Thành (tức Tám Vô Tư), bác của Nguyễn Hữu Hạnh, được Ban binh vận Trung Ương Cục giao nhiệm vụ trực tiếp nắm và bồi dưỡng cho Nguyễn Hữu Hạnh.&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="color: #274e13;"&gt;&lt;b&gt;Tháng 3 và 4/1975, đồng chí Tám Vô Tư thường gặp ông Nguyễn Hữu Hạnh. Sau khi Nguyễn Văn Thiệu từ chức, đồng chí Tám Vô Tư gợi ý ông Hạnh nên tiếp cận và vận động Dương Văn Minh nếu lên làm Tổng thống thì tìm cách kết thúc cuộc chiến có lợi cho nhân dân.&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="color: #274e13;"&gt;&lt;b&gt;Khi được tin ông Dương Văn Minh lên làm Tổng thống, ngày 28/4/1975, từ Cần Thơ, ông Nguyễn Hữu Hạnh bằng mọi cách, vượt mọi khó khăn lên Sài Gòn gặp Dương Văn Minh và được ông giao làm phụ tá Tổng tham mưu trưởng, thay Tổng tham mưu trưởng ở bên cạnh ông, sau đó là Quyền Tổng tham mưu trưởng. Với các cương vị này, ông Hạnh đã góp phần quan trọng vào việc thực hiện lệnh của Tổng thống Dương Văn Minh làm cho quân đội Sài Gòn “án binh bất động”, tan rã tại chỗ, không nổ súng và thúc đẩy Chính phủ Dương Văn Minh sớm bàn giao chính quyền cho cách mạng.&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="color: #274e13;"&gt;&lt;b&gt;2/ Thâm nhập vào “nhóm Dương Văn Minh”&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="color: #274e13;"&gt;&lt;b&gt;Tháng 9/1972, Ban An ninh T4 (Thành phố Sài Gòn - Gia Định) thành lập Cụm điệp báo mới, bí số là A10, với nhiệm vụ xây dựng lực lượng điệp báo bí mật trong một số đối tượng, trong đó có lực lượng thứ ba, đặc biệt là “nhóm Dương Văn Minh”… (các thành viên bộ tham mưu nhóm Dương Văn Minh, ban biên tập bản tin nội bộ nhóm Dương Văn Minh, thư ký tòa soạn báo Điện Tín, báo Đại dân tộc…).&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="color: #274e13;"&gt;&lt;b&gt;Đầu năm 1975, đồng chí Trần Quốc Hương (Mười Hương), Trưởng Ban Anninh T4, chỉ đạo A10 tìm cách thâm nhập vào lực lượng thứ ba và nhóm Dương Văn Minhđể tác động, vận động lực lượng này chống đối, cô lập, chia rẽ chính quyền Nguyễn Văn Thiệu.&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="color: #274e13;"&gt;&lt;b&gt;Thời gian này, Cụm điệp báo A10 tiếp cận, bám sát “nhóm Dương Văn Minh”, có lúc họa sĩ Ớt (Huỳnh Bá Thành) ở luôn trong nhà Dương Văn Minh; tham gia viết và in tuyên cáo “chống Chính phủ Thiệu không có Thiệu”, đòi Trần Văn Hương từ chức (Tổng thống).&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="color: #274e13;"&gt;&lt;b&gt;Ngày 01/3 và cuối tháng 3/1975, đồng chí Huỳnh Bá Thành (lần sau có thêm các đồng chí Trần Thiếu Bảo, Huỳnh Huề…) vào căn cứ báo cáo với đồng chí Mai Chí Thọ (Bí thư thành ủy), Trần Thanh Vân (Phó trưởng Ban An ninh T4). Đồng chí Mai Chí Thọ chỉ đạo: “…Phải bằng mọi cách để Dương Văn Minh thay Nguyễn Văn Thiệu, rồi giao chính quyền cho cách mạng. Đó là chủ trương của Đảng nhằm tránh đổ máu, tránh tổn thất cho nhân dân”.&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="color: #274e13;"&gt;&lt;b&gt;3/ Tác động vào Chính phủ Dương Văn Minh&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="color: #274e13;"&gt;&lt;b&gt;Cụm điệp báo VĐ2 thuộc phòng tình báo chiến lược M22, cục tham mưu Miền cũng có chỉ đạo vận động tác động nội các Dương Văn Minh đầu hàng thông qua kỹ sư Tô Văn Cang trong những ngày cuối cùng của chế độ Sài Gòn. Theo ông Tô Văn Cang, sáng ngày 28/4/1975, ông Cang đến gặp Đại tá Nguyễn Văn Khiêm (Sáu Trí) ở nhà ông Ba Lễ (cơ sở tình báo) hẻm đường Triệu Đà, Sài Gòn, để báo ý kiến của ông Nguyễn Văn Diệp (trong Chính phủ Dương Văn Minh) muốn tìm gặp đại diện Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam để xin ý kiến xử trí tình hình Sài Gòn. Đồng chí Sáu Trí phân tích tình hình và “khuyên Chính phủ Dương Văn Minh chấp nhận đầu hàng vô điều kiện”. Ý kiến này được ông Cang phản ánh lại cho ông Diệp và sau đó ông Diệp có báo cáo lại cho bộ ba Dương Văn Minh – Nguyễn Văn Huyền – Vũ Văn Mẫu.&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="color: #274e13;"&gt;&lt;b&gt;4/ Xây dựng lực lượng thứ ba ở đô thị&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="color: #274e13;"&gt;&lt;b&gt;Sau hiệp định Paris (1973), Hội nghị lần thứ 21 Ban chấp hành Trung Ương (tháng 7/1973) đề ra nhiệm vụ: “Xây dựng lực lượng thứ ba ở đô thị”; “mở rộng hơn nữa Mặt trận dân tộc Giải phóng gồm mọi giai cấp, tôn giáo, lực lượng hòa bình, độc lập, dân chủ ở miền Nam và Việt kiều ở nước ngoài”.&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="color: #274e13;"&gt;&lt;b&gt;Năm 1974, theo chỉ đạo của đồng chí Mười Cúc (Nguyễn Văn Linh), Phó Bí thư Trung Ương Cục miền Nam, đồng chí QuốcHương (Mười Hương), Ủy viên Thường vụ, Trưởng Ban An ninh T4 đã chọn một số thanh niên, sinh viên cài vào hoạt động trong lực lượng thứ ba.&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="color: #274e13;"&gt;&lt;b&gt;Trên thực tế thì lực lượng ta đã hình thành trước khi có hiệp định Paris qua tổ chức “Lực lượng quốc gia tiến bộ” do luật sư Trần Ngọc Liễng và nhà tư sản dân tộc (ngành vật liệu xây dựng) Phan Văn Mỹ thành lập tháng 6/1969 với mục tiêu là: đòi các lực lượng ngoại nhập (Mỹ và đồng minh) phải rút khỏi miền Nam, thành lập chính phủ hòa giảidân tộc. Sau đó, lợi dụng lúc Thiệu đi nước ngoài, luậtsư Trần Ngọc Liễng lập “Lực lượng hoà giải dân tộc”. Sau hiệp định Paris, tháng 02/1974, nhóm luật sư Trần NgọcLiễng lập “Tổ chức nhân dân đòi thi hành hiệp định Paris”, xác định mình là lực lượng thứ ba, mục tiêu chính là đòi thi hành hiệp định Paris, Mỹ rút quân, thành lập Chính phủ hoà giải dân tộc.&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="color: #274e13;"&gt;&lt;b&gt;Thành viên của “nhóm Dương Văn Minh” gồm một số trí thức, dân biểu đối lập, ký giả, tướng lĩnh[1]. Hằng tuần, nhóm họp bàn về tình hình thời sự chính trị (lúc tình hình sôi động mỗi tuần họp hai lần). Cạnh tướng Dương Văn Minh có Văn phòng báo chí. Lúc báo Điện tín bị đóng cửa, “nhóm Dương Văn Minh” ra bản tin bán công khai để phát cho các tổ chức, đoàn thể, báo chí trong và ngoài nước.&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="color: #274e13;"&gt;&lt;b&gt;-Theo ông Lý Quý Chung (Hồi ký), tuần lễ đầu tháng 4/1975, tướng Dương Văn Minh và “nhóm Dương Văn Minh” đã họp tại Dinh Hoa Lan (nhà ông Minh) bàn và quyết định công bố ý định thay thế Nguyễn Văn Thiệu để góp phần chấm dứt chiến tranh.&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="color: #274e13;"&gt;&lt;b&gt;5/ Phối hợp phong trào đấu tranh chính trị của nhân dân Sài Gòn&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="color: #274e13;"&gt;&lt;b&gt;Với các khẩu hiệu “đuổi Mỹ, lật Thiệu”, đòi Nguyễn Văn Thiệu từ chức, đòi thi hình hiệp định Paris, hòa bình, chấm dứt chiến tranh, đòi dân chủ, cải thiện dân sinh… các cuộc xuống đường diễn ra liên tục, mạnh mẽ thu hút hàng ngàn, hàng vạn người. Như cuộc xuống đường của 200 ký giả Sài Gòn ngày 10/10/1974, ngày “ký giả đi ăn mày” lôi cuốn gần hai vạn quần chúng tham gia đã có tiếng vang lớn cả trong và ngoài nước. Cuộc tuần hành ngày 20/4/1974 của hàng vạn công nhân lao động, sinh viên, học sinh, trí thức, thương phế binh… đòi Nguyễn Văn Thiệu từ chức, đòi thi hành hiệp định Paris, đòi hòa bình, cơm áo, chống sa thải, chống thuế VAT…, là cuộc đấu tranh lớn nhất từ sau hiệp định Paris.&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="color: #274e13;"&gt;&lt;b&gt;MỸ, PHÁP VỚI TƯỚNG DƯƠNG VĂN MINH&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="color: #274e13;"&gt;&lt;b&gt;* Mỹ: Năm 1971, Mỹ yêu cầu Dương Văn Minh ra tranh cử Tổng thống với Nguyễn Văn Thiệu để tỏ ra chế độ Cộng hòa miền Nam có dân chủ, nhưng phải thất cử để trở thành lãnh tụ của phe đối lập trong nghị viện. Tướng Dương Văn Minh từ chối. Đại sứ Mỹ Bunker còn trắng trợn hỏi ông Minh cần bao nhiêu đô-la cho cuộc tranh cử. Ông Minh cố nén giận, nhưng giữ lịch sự, đưa tay chỉ đại sứ Mỹ về phía cửa phòng (không tiếp đại sứ Mỹ nữa). Cuộc bầu cử đó, Tướng Dương Văn Minh có ra ứng cử, nhưng đến giờ chót quyết định rút lui, chỉ còn Nguyễn Văn Thiệu trở thành ứng cử viên Tổng thống “độc diễn”, làm bẽ mặt Mỹ – Thiệu.&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="color: #274e13;"&gt;&lt;b&gt;Sau khi Thiệu từ chức, Phó tổng thống Trần Văn Hương lên thay tổng thống, tuyên bố “cương quyết tử thủ dù phải hi sinh đến nắm xương tàn”, đã bị nhân dân và báo chí Sài Gòn đấu tranh đòi Chính phủ Trần Văn Hương từ chức ngay lập tức. Trần Văn Hương trì hoãn việc giao quyền cho Dương Văn Minh, mãi đến ngày 26/4/1975, lưỡng viện Sài Gòn đã bầu Dương Văn Minh làm Tổng thống Việt Nam Cộng hòa với 147/151 phiếu.&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="color: #274e13;"&gt;&lt;b&gt;* Pháp: Theo đồng chí Phan Nhẫn, ngày 27 (hoặc 28/4/1975), Bộ Ngoại giao Pháp gặp đồng chí Phạm Văn Ba (Giám đốc Trung tâm thông tin Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng Hòa miền Nam) gợi ý Chính phủ Cách mạng lâm thời nên đi vào đàm phán. Lúc đó, Pháp hi vọng “giải pháp Dương Văn Minh” và khả năng thương lượng với Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam .&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="color: #274e13;"&gt;&lt;b&gt;Theo chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh và ông Lý Quý Chung, sáng ngày 30/4/1975, tướng tình báo Pháp Vanuxem đến Phủ thủ tướng (số 7 Thống Nhất, nay là đường Lê Duẩn) gặp Tổng thống Dương Văn Minh, gợi ý ông Minh nên kêu gọi Trung Quốc can thiệp để cứu miền Nam không rơi vào tay Cộng sản Bắc Việt. Ông Minh từ chối, nói rằng: “Tôi đã từng làm tay sai cho Pháp rồi cho Mỹ, đã quá đủ rồi. Tôi không thể tiếp tục làm tay sai cho Trung Quốc”.&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="color: #274e13;"&gt;&lt;b&gt;TƯỚNG DƯƠNG VĂN MINH VỚI 3 NGÀY LÀM TỔNG THỐNG&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="color: #274e13;"&gt;&lt;b&gt;15 giờ chiều ngày 28/4/1975, Tướng Minh làm lễ nhậm chức Tổng thống, cử Nguyễn Văn Huyền làm Phó tổng thống, Vũ Văn Mẫu làm Thủ tướng.&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="color: #274e13;"&gt;&lt;b&gt;Tổng thống Dương Văn Minh cử một số Bộ trưởng và người phụ trách quân đội, cảnh sát, trong đó có đảng viên và cơ sở của ta là: Luật sư Triệu Quốc Mạnh, Giám đốc Nha cảnh sát đô thành, và chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh, phụ tá Tổng tham mưu trưởng sau là quyền Tổng tham mưu trưởng.&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="color: #274e13;"&gt;&lt;b&gt;Về Bộ quốc phòng, Tổng thống Dương Văn Minh chỉ định Giáo sư Bùi Tường Huân, Giáo sư Đại học Huế (không phải tướng tá) làm Bộ trưởng. (Theo ông Lý Quý Chung, việc Tổng thống Dương Văn Minh chỉ định ông Bùi Tường Huân làm Bộ trưởng quốc phòng để chứng tỏ chính phủ này không muốn chiến tranh).&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="color: #274e13;"&gt;&lt;b&gt;17 giờ ngày 28/4/1975, phi đội 5 chiếc A37 của Nguyễn Thành Trung ném bom sân bay Tân Sơn Nhất.&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="color: #274e13;"&gt;&lt;b&gt;Theo ông Hồ Ngọc Nhuận (Hồi ký), tối hôm đó, Tướng Minh giao cho ông chuẩn bị chiếm đài phát thanh (đề phòng Nguyễn Cao Kỳ làm đảo chính).&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="color: #274e13;"&gt;&lt;b&gt;Đêm 28/4, Tướng Dương Văn Minh và gia đình dời đến ở nhà một người bạn của tướng Mai Hữu Xuân ở đường Phùng Khắc Khoan do sợ Nguyễn Cao Kỳ ném bom dinh Hoa Lan (nhà ông Minh).&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="color: #274e13;"&gt;&lt;b&gt;Theo cựu dân biểu Dương Văn Ba (Hồi ký), đêm 28/4/1975, hai đại tá phi công lái hai máy bay trực thăng phục vụ tổng thống đậu trên nóc dinh Độc Lập, gặp Tổng thống Dương Văn Minh đề nghị đưa Tổng thống và tất cả những người trong bộ tham mưu tổng thống và gia đình bay ra Đệ Thất Hạm Đội. Ông Minh trả lời: “Hai em có thể yên lòng lái máy bay ra Đệ Thất Hạm Đội, bất cứ ai có mặt ở đây muốn đi theo thì có thể ra đi. Phần tôi, tôi nhất quyết không đào ngũ bỏ chạy; không thể nào bỏ dân chúng Sài Gòn, không thể nào bỏ miền Nam như con rắn mất đầu”.&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="color: #274e13;"&gt;&lt;b&gt;Tướng Dương Văn Minh chuẩn bị tuyên bố đầu hàng tại đài phát thanh Sài Gòn trưa ngày 30/4/1975&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="color: #274e13;"&gt;&lt;b&gt;&lt;br /&gt;&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="color: #274e13;"&gt;&lt;b&gt;Ngày 29/4/1975&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="color: #274e13;"&gt;&lt;b&gt;&lt;br /&gt;&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="color: #274e13;"&gt;&lt;b&gt;Tổng thống Dương Văn Minh, Phó tổng thống Nguyễn Văn Huyền và Thủ tướng Vũ Văn Mẫu bàn và ra lệnh cho Giám đốc Nha cảnh sát đô thành Triệu Quốc Mạnh thả tù binh chính trị; gửi công văn yêu cầu Đại sứ Mỹ Martin cho cơ quan Viện trợ quân sự Mỹ (DAO) rời khỏi Việt Nam trong vòng 24 giờ để giải quyết hòa bình ở Việt Nam.&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="color: #274e13;"&gt;&lt;b&gt;Đến 16 giờ chiều ngày 29/4, đã thực hiện xong việc trả tù binh chính trị (trong đó có Huỳnh Tấn Mẫm). Chỉ huy các ban và cảnh sát 18 quận, huyện đã tan rã (trừ bộ phận biệt phái).&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="color: #274e13;"&gt;&lt;b&gt;Tổng thống Dương Văn Minh chỉ thị không được di chuyển quân, không được phá cầu. Dựa vào chỉ thị trên, chiều ngày 29/4/1975, phụ tá Tổng tham mưu trưởng Nguyễn Hữu Hạnh đã ra lệnh cho các đơn vị không được phá cầu. Đơn vị nào muốn phá cầu phải có lệnh của Bộ Tổng tham mưu.&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="color: #274e13;"&gt;&lt;b&gt;Sau đó, khoảng 15 giờ, phái đoàn do Luật sư Trần Ngọc Liễng cầm đầu có Linh mục Chân Tín, Giáo sư Châu Tâm Luân vào Trại David, được đồng chí Võ Đông Giang, Phó trưởng phái đoàn ta tiếp. Ông Liễng đã thông báo với phái đoàn ta về chủ trương “không chống cự” của Tổng thống Dương Văn Minh, mà ông coi là niềm vui sướng nhất trong đời ông, vì đã thông báo cho bên trong biết “Sài Gòn không chống cự” vào giờ chót của cuộc chiến tranh. Theo Luật sư Liễng, Tổng thống Dương Văn Minh đã chấp nhận đầu hàng từ buổi trưa hôm đó (ngày 29/4/1975).&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="color: #274e13;"&gt;&lt;b&gt;Từ chiều và tối ngày 29/4, cũng có một số người tác động Tổng thống Dương Văn Minh hướng “Thành phố để ngỏ”, đầu hàng. Như ông Lý Quý Chung, họa sĩ Ớt (Huỳnh Bá Thành). Thông qua ông Phan Xuân Huy và ông Đoàn Mai, thượng tọa Thích Trí Quang nói điện thoại trực tiếp với Tổng thống Dương Văn Minh: “còn chờ gì nữa mà không đầu hàng”[2].&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="color: #274e13;"&gt;&lt;b&gt;Ngày 30/4/1975&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="color: #274e13;"&gt;&lt;b&gt;- 6 giờ, chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh quyền Tổng tham mưu trưởng (tướng Vĩnh Lộc, Tổng tham mưu trưởng đã chuồn) và tướng Nguyễn Hữu Có đến báo cáo với Tổng thống Dương Văn Minh về toàn bộ tình hình quân sự. Sau đó, ông Minh (cùng các ông Hạnh và Có) đến Phủ Thủ tướng (số 7 Thống nhất, nay là đường Lê Duẩn).&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="color: #274e13;"&gt;&lt;b&gt;Tổng thống Dương Văn Minh họp với Phó Tổng thống Nguyễn Văn Huyền, Thủ tướng Vũ Văn Mẫu và một số người trong nội các “nhóm Dương Văn Minh”, bàn và quyết định không nổ súng và giao chính quyền cho Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng Hòa miền Nam. Thủ tướng Vũ Văn Mẫu soạn bản thảo tuyên bố này.&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="color: #274e13;"&gt;&lt;b&gt;- 9 giờ, Tổng thống Dương Văn Minh đọc vào máy ghi âm.&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="color: #274e13;"&gt;&lt;b&gt;Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh đề nghị và được Tổng thống Dương Văn Minh đồng ý có nhật lệnh cho quân đội. Ông Hạnh soạn thảo nhật lệnh này. Đồng thời tướng Nguyễn Hữu Hạnh gọi điện thoại cho tướng Nguyễn Khoa Nam, Tư lệnh Quân khu 4 yêu cầu cố gắng thi hành lệnh của Tổng thống trên đài phát thanh.&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="color: #274e13;"&gt;&lt;b&gt;9 giờ 30: Đài phát thanh phát tuyên bố của Tổng thống Dương Văn Minh: “Đường lối của chúng tôi là hòa giải và hòa hợp dân tộc”; “yêu cầu tất cả anh em chiến sĩ Cộng Hòa ngưng nổ súng, và ở đâu thì ở đó”; “Chúng tôi chờ gặp Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng Hòa miền Nam Việt Nam để thảo luận về lễ bàn giao chính quyền trong vòng trật tự, tránh sự đổ máu vô ích cho đồng bào”.&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="color: #274e13;"&gt;&lt;b&gt;Sau đó, cả các ông Dương Văn Minh, Nguyễn Văn Huyền, Vũ Văn Mẫu cùng nội các đến Dinh Độc Lập để chờ bàn giao chính quyền cho cách mạng.&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="color: #274e13;"&gt;&lt;b&gt;Sau khi đọc tuyên bố “đầu hàng” xong, Tướng Dương Văn Minh nói với mọi người (trong Chính phủ): “Mọi việc coi như đã xong. Bây giờ ai muốn đi hay ở thì tùy”.&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="color: #274e13;"&gt;&lt;b&gt;11 giờ 30, xe tăng quân giải phóng vào Đinh Độc Lập. Xe quân giải phóng đưa ông Dương Văn Minh và ông Vũ Văn Mẫu đến đài phát thanh để đọc tuyên bố đầu hàng vô điều kiện.&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="color: #274e13;"&gt;&lt;b&gt;&lt;br /&gt;&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="color: #274e13;"&gt;&lt;b&gt;Buổi trả tự do cho nhóm Dương Văn Minh tại Dinh Độc Lập tối ngày 2/5/1975&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="color: #274e13;"&gt;&lt;b&gt;KẾT LUẬN&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="color: #274e13;"&gt;&lt;b&gt;1/ Tướng Dương Văn Minh là người có tinh thần dân tộc, yêu nước. Từ chỗ lúc đầu còn mơ hồ về việc Mỹ xâm lược miền Nam, cho rằng Mỹ có giúp đỡ miền Nam, dần dần tỏ thái độ chống Mỹ: chống Mỹ đưa quân viễn chinh Mỹ và đồng minh vào miền Nam, kéo dài và mở rộng chiến tranh, muốn có hòa bình, độc lập và hòa hợp dân tộc.&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="color: #274e13;"&gt;&lt;b&gt;2/ Theo ông Nguyễn Hữu Hạnh và ông Lý Quý Chung, Tướng Dương Văn Minh lên làm Tổng thống không có ý để thương thuyết với cách mạng vì đã thấy không còn khả năng thương thuyết; cũng không có ý để tiếp tục chiến tranh vì lâu nay ông Minh chủ trương hoà bình, chấm dứt chiến tranh. Điều này thể hiện rõ ở Tổng thống Dương Văn Minh chỉ định hai cơ sở của ta (chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh và luật sư Triệu Quốc Mạnh) nắm hai lực lượng vũ trang: quân đội và cảnh sát; cử một người dân sự (giáo sư Bùi Tường Huân) làm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng; chưa đầy một ngày sau khi nhậm chức thì ngày 29/4/1975, đã ra lệnh thả tù chính trị, đuổi phái đoàn DAO của Mỹ; không di chuyển quân, không phá cầu v.v..&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="color: #274e13;"&gt;&lt;b&gt;3/- Trong điều kiện cuộc tổng tiến công quân sự của các binh đoàn chủ lực kết hợp với cuộc tiến công và nổi dậy của các lực lượng vũ trang và quần chúng ở thành phố Sài Gòn – Gia Định đã tạo sức ép quân sự lớn; công tác vận động, binh địch vận của nhiều lực lượng ta với Tướng Dương Văn Minh; được sự đồng tình, tác động tích cực của những người chủ yếu trong nội các, lực lượng thứ ba và “nhóm Dương Văn Minh”; Tổng thống Dương Văn Minh đã quyết định “không chống cự”, tuyên bố “ngưng nổ súng và ở đâu ở đó vào 9g30 (sau đó tuyên bố “đầu hàng vô điều kiện” vào 11g30) ngày 30/4/1975 là hành động thức thời, làm giảm ý chí đề kháng của đại bộ phận quân đội Sài Gòn vào những giờ chót của cuộc chiến tranh, tạo thuận lợi cho quân giải phóng tiến nhanh vào giải phóng hoàn toàn thành phố Sài Gòn còn nguyên vẹn và không đổ máu. Nhiều thành phố và thị xã khác cũng được giải phóng nguyên vẹn, ít tổn thất. Chúng ta biết rõ giành được thắng lợi to lớn này, cuộc tổng tiến công của các quân đoàn kết hợp với các cuộc tiến công và nổi dậy của lực lượng vũ trang và quần chúng địa phương đóng vai trò quyết định. Tuy nhiên, công bằng mà nói, hành động thức thời của Tổng thống Dương Văn Minh và nội các của ông đã góp phần làm cuộc chiến kết thúc sớm, tránh đổ nhiều xương máu của binh sĩ và nhân dân, thành phố Sài Gòn và nhiều đô thị còn nguyên vẹn. Đó là nghĩa cử yêu nước, thương dân của ông Dương Văn Minh.&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="color: #274e13;"&gt;&lt;b&gt; &lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="color: #274e13;"&gt;&lt;b&gt;-- &lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="color: #274e13;"&gt;&lt;b&gt;@@@ TÀI LIỆU THAM KHẢO @@@&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="color: #274e13;"&gt;&lt;b&gt;( Mai Trân chuyển tin ).&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;div class="separator" style="clear: both; text-align: center;"&gt;&lt;a href="http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/S4Ygooem5hI/AAAAAAAAKh0/xJGRRnjtI90/s1600-h/images719803_moongdiem.jpg" imageanchor="1" style="margin-left: 1em; margin-right: 1em;"&gt;&lt;img border="0" height="480" src="http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/S4Ygooem5hI/AAAAAAAAKh0/xJGRRnjtI90/s640/images719803_moongdiem.jpg" width="640" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;a href="http://2.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/S4YgyKglvtI/AAAAAAAAKh8/lqXdzhsVGEA/s1600-h/Diem_body.jpg" imageanchor="1" style="margin-left: 1em; margin-right: 1em;"&gt;&lt;img border="0" src="http://2.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/S4YgyKglvtI/AAAAAAAAKh8/lqXdzhsVGEA/s320/Diem_body.jpg" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/4274400117116119553-1899989918841542723?l=anhhungvaphanboi.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://anhhungvaphanboi.blogspot.com/feeds/1899989918841542723/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=4274400117116119553&amp;postID=1899989918841542723' title='1 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/4274400117116119553/posts/default/1899989918841542723'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/4274400117116119553/posts/default/1899989918841542723'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://anhhungvaphanboi.blogspot.com/2010/02/hang-tuong-duong-van-minh.html' title='Hàng Tướng Dương Văn Minh'/><author><name>Nha Kỹ Thuật</name><uri>http://www.blogger.com/profile/00058869536112748808</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='26' height='32' src='http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SKrYhjfyioI/AAAAAAAAC0w/Z-Pv_vtrYCM/S220/phamhoasize07.jpg'/></author><media:thumbnail xmlns:media='http://search.yahoo.com/mrss/' url='http://2.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SpVeWvNsXSI/AAAAAAAAGOA/mzIsZhw4wgg/s72-c/0_TUONG_DUONG_VAN_MINH_1963_jpg.jpg' height='72' width='72'/><thr:total>1</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-4274400117116119553.post-3072343077420781559</id><published>2010-02-08T18:08:00.001-08:00</published><updated>2010-02-09T16:09:02.784-08:00</updated><title type='text'>Cảnh Báo Về Một Địa Chỉ Đỏ Tại Cam Bốt</title><content type='html'>&lt;h2 class="title"&gt;&lt;b&gt;&lt;span class="right"&gt;&lt;a href="http://rfvn.com/?p=2990#respond"&gt;&lt;/a&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&amp;nbsp;&lt;/h2&gt;&lt;div style="text-align: right;"&gt;&lt;div class="separator" style="clear: both; text-align: center;"&gt;&lt;a href="http://rfvn.com/wp-content/uploads/2009/04/ngo-van-tai-picture.jpg" style="margin-left: 1em; margin-right: 1em;"&gt;&lt;img alt="" class="size-medium wp-image-2991 alignright" height="225" src="http://rfvn.com/wp-content/uploads/2009/04/ngo-van-tai-picture-300x225.jpg" title="ngo-van-tai-picture" width="300" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;/div&gt;&lt;b&gt;&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: right;"&gt;&lt;b&gt;&lt;i&gt;Biệt Kích Tango Ngô Văn Tài, chiến đoàn 1 Lôi Hổ tại Non Nước - Đà Nẳng trước 1975&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;b&gt;&lt;br /&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;div align="center" class="MsoNormal" style="margin: 0in 0in 0pt; text-align: center;"&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="color: red; font-family: &amp;quot;Arial&amp;quot;,&amp;quot;sans-serif&amp;quot;; font-size: 14pt;"&gt;NHỮNG HIỂM HỌA TIỀM TÀNG &lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="center" class="MsoNormal" style="margin: 0in 0in 0pt; text-align: center;"&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="color: red; font-family: &amp;quot;Arial&amp;quot;,&amp;quot;sans-serif&amp;quot;; font-size: 14pt;"&gt;CỦA &lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="color: red; font-family: &amp;quot;Arial&amp;quot;,&amp;quot;sans-serif&amp;quot;; font-size: 14pt;"&gt;NGƯỜI&amp;nbsp;VIỆT TỴ NẠN CỘNG SẢN &lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="center" class="MsoNormal" style="margin: 0in 0in 0pt; text-align: center;"&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="color: red; font-family: &amp;quot;Arial&amp;quot;,&amp;quot;sans-serif&amp;quot;; font-size: 14pt;"&gt;TẠI CAM BỐT&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="line-height: 115%; margin-bottom: 12pt;"&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="color: red;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: Times New Roman;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp; &lt;/span&gt;&lt;span style="font-size: 14pt; line-height: 115%;"&gt;Tác giả: &lt;i&gt;&lt;span style="color: #3333ff;"&gt;Tango Ngô Văn Tài&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;b&gt;&lt;br /&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Chuyện kể lại sự thật của một chiến sĩ Biệt Kích nhảy toán, sau ngày 30 tháng 4, 1975 vẫn tiếp tục chiến đấu chống bạo quyền Cộng Sản Việt Nam, sống lưu vong trên đất nước của mình suốt 30 năm, năm 2006 Biệt Kích Tango Ngô Văn Tài trốn sang Cambodia nhưng nơi đây cũng đầy dẫy mạn lưới tình báo của Việt Cộng….xin mời độc giả đọc một bài có giá trị về đấu tranh hiện nay.&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&amp;nbsp;——————&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;div style="line-height: 115%; margin-bottom: 12pt;"&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="font-family: Times New Roman; font-size: small;"&gt;Từ sau ngày mất nước 30 tháng 4 năm 1975, hàng triệu người Việt nam đã bỏ nước ra đi tìm tự do bằng đường thủy, đường bộ, và bằng tất cả mọi phương tiện mà họ có thể có được. Cái giá của tự do dân chủ mà người dân Việt mất nước phải đánh đổi là chính tài sản và tính mạng của họ và gia đình. Tất nhiên để có được khoảng 3 triệu người Việt đến được bến bờ tự do, thì cũng có xấp xỉ con số đó, gồm cả phụ nữ và trẻ em, đã phải vĩnh viễn nằm lại đâu đó trên hành trình đi tìm tự do đó mà mối hiểm họa đến từ nhiều phía: sự truy sát của công an biên phòng và hải tuần của cộng sản Việt nam, bão tố phong ba, hải tặc cướp giết.&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="font-family: Times New Roman; font-size: small;"&gt;Kể từ sau tháng 4 năm 1989, khi Cao Ủy Liên Hiệp Quốc Đặc Trách Về Người Tỵ Nạn (UNHCR) không còn công nhận thuyền nhân Việt nam là những người tỵ nạn chính trị nữa, thì chính phủ CSVN càng mạnh tay hơn trong các chiến dịch đàn áp các tổ chức tôn giáo, các chức sắc tôn giáo, những nhà bất đồng chính kiến, những nhà dân chủ và cả các sắc tộc thiểu số ở Tây nguyên khi họ đòi quyền được tự do tín ngưỡng, được tự do bày tỏ chính kiến và được quyền sở hữu đất đai mà tổ tiên họ để lại. Hệ quả của những cuộc đàn áp mạnh tay này là một làn sóng vượt biên bằng đường bộ của những nạn nhân là người Thượng cũng như người Kinh bất đồng chính kiến lại ra đời: Hàng ngàn người lại rời bỏ tổ quốc, vượt biên giới sang Cam bốt, đến văn phòng của Cao Ủy Liên Hiệp Quốc Đặc Trách Về Người Tỵ Nạn (UNHCR) tại đây để xin được quốc tế bảo vệ.&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="font-family: Times New Roman; font-size: small;"&gt;Bởi không thể ngăn chặn được tất cả những người dám đối diện với cái chết để đi tìm quyền được sống này, chính quyền cộng sản Việt nam đã phải xây dựng một hệ thống tình báo ngoại tuyến và cài cắm sang Cam bốt những nhân viên mật vụ máu lạnh để theo dõi, để gây ly gián và để thực hiện những những cuộc bắt cóc, truy sát đối với những người tỵ nạn là những nhà bất đồng chính kiến, những nhà đối lập chính trị dám tiếp tục lên án và tố cáo tội ác của chế độ bạo quyền cộng sản Việt nam. Những tên tình báo này và hệ thống chân rết của chúng trên đất nước Chùa tháp chính là mối hiểm họa tiềm tàng của những người Việt tỵ nạn cộng sản tại đây. Tuy nhiên do nghiệp vụ tình báo siêu việt cũng như sự lưu manh xảo quyệt vốn có của những tên cộng sản, mà những nạn nhân của chúng khó nhận diện được chúng là những tên tình báo cộng sản máu lạnh.&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;b&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;div style="line-height: 115%; margin-bottom: 12pt;"&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;span style="font-family: Times New Roman;"&gt;Và cứ thế, hết thế hệ người tỵ nạn này đến thế hệ người tỵ nạn khác tiếp tục là những nạn nhân bi thảm của chúng, mà ngay cả một số người Việt đang định cư ở nước ngoài đang ủng hộ phong trào dân chủ quốc nội cũng từng bị lung lạc, lừa bịp bởi những tên tình báo cộng sản này, để rồi nhiều cá nhân, nhiều tổ chức đã quay lưng với các phong trào dân chủ này. Tuy nhiên, chúng tôi không có ý chỉ trích những cá nhân, những tổ chức của người Việt hải ngoại đã rơi vào kế ly gián của những tên tình báo cộng sản đang hoạt động tại Cam Bốt đã bỏ rơi những nạn nhân của chế độ cộng sản, hoặc quay lưng với công cuộc đấu tranh của họ, mà chúng tôi chỉ xin được trình bày những điều mắt thấy tai nghe về những tên tình báo cộng sản khát máu này, bởi bản thân tôi cũng từng là một nạn nhân của nó, mà nếu không có quyền năng của Chúa thì có lẽ tôi cũng đã trở thành mồi ngon cho cá sấu trong một trang trại cá sấu của Bộ Nội Vụ Cam Bốt và cơ quan tình báo CSVN nuôi tại Nam Vang để thủ tiêu những người Việt tỵ nạn là những nhà chính trị đối kháng như lời đe dọa của một trong những tên tình báo cộng sản đã len lỏi được vào cộng đồng người Việt tỵ nạn chúng tôi. Với mong muốn thật nhỏ nhoi là cảnh báo cho những người Việt đang tỵ nạn tại Cam bốt cũng như những nhà bất đồng chính kiến, những nhà dân chủ trẻ trong nước biết những “vùng báo động đỏ hiểm nghèo” tại Cam bốt để có thể tránh né, nếu tình thế bắt buộc phải đào thoát sang đó lánh nạn cộng sản.&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="background-color: yellow;"&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;span style="font-family: Times New Roman;"&gt;Tôi tên là Ngô Văn Tài, sinh năm 1948 tại Hải Dương, Bắc phần Việt nam. Năm 1954 tôi theo gia đình di cư vào Nam để tránh họa cộng sản.&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="background-color: yellow;"&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="background-color: yellow;"&gt;&lt;b&gt;&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="background-color: yellow; line-height: 115%; margin-bottom: 12pt;"&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="font-family: Times New Roman; font-size: small;"&gt;Năm 1970, tôi nhập ngũ, tùng sự tại toán Tây Sơn thuộc Chiến Đoàn 1 Lôi Hổ, đồn trú tại Non Nước, Đà Nẵng. Năm 1975 sau khi cộng quân Bắc Việt cưỡng chiếm miền Nam, cùng một số chiến hữu chúng tôi tham gia lực lượng Liên Bang Chí Nguyện Quân Đông Dương tiếp tục kháng cộng cứu quốc cho đến khi lực lượng bị tan rã, chúng tôi lại tiếp tục sát nhập với lực lượng FULRO tại khu vực M’ Răng để tiếp tục cuộc kháng cộng cứu nguy dân tộc. Đến năm 1978 sau những trận đánh không cân sức do thiếu cả nhân lực và vũ khí, lực lượng của chúng tôi và FULRO cũng hoàn toàn bị tan rã, phần lớn chiến hữu của chúng tôi đã hy sinh, một số rất nhỏ vượt thoát được đến rừng núi thuộc Đông-Bắc Cam Bốt lẫn trốn, số còn lại bị bắt, bị án chung thân hoặc tử hình. Tôi lại may mắn cùng một số chiến hữu cùng án chung thân vượt ngục thành công từ trại tù Đại Bình vào cuối năm 1978 và sống ngoài vòng pháp luật, sống lưu vong trên chính tổ quốc của mình suốt gần 30 năm qua trong thân phận của những con người không gia đình không tổ quốc. Đến tháng 8 năm 2006 khi một số chiến hữu của tôi bị lộ diện, bị bắt giam và qua những thông tin mà lực lượng an ninh của CSVN thu thập được sau các cuộc tra tấn nhục hình các chiến hữu của tôi, thì nhân thân của tôi cũng bị bại lộ. Các lực lượng an ninh của bộ công an CSVN bắt đầu các chiến dịch truy quét làng quê của tôi tại Lạc Lâm, Đơn Dương, Tuyên Đức đồng thời cũng triền miên xách nhiễu mẹ già cùng những người họ hàng thân thuộc của tôi để mong tôi sẽ bị yếu lòng mà ra đầu thú, đầu hàng cộng sản, nên tôi phải tìm đường sang Cam Bốt lánh nạn.&amp;nbsp;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="font-family: Times New Roman; font-size: small;"&gt;Tại Cam Bốt, tôi đã đến trình diện với văn phòng của Cao Ủy Liên Hiệp Quốc Đặc Trách Về Người Tỵ Nạn (UNHCR) để xin được bảo vệ bởi tôi đang đối mặt với sự truy sát của các lực lượng an ninh của CSVN. Nhưng than ôi, thật là họa vô đơn chí! Vào thời gian này Phủ Cao Ủy Liên Hiệp Quốc Đặc Trách Về Người Tỵ Nạn (UNHCR) tại Cam Bốt đang trong giai đoạn chuyển giao quyền phỏng vấn, xem xét và cấp quy chế tỵ nạn cho Bộ Nội Vụ Cam Bốt đảm trách, mà bộ nội vụ của chính phủ Cam bốt thực chất chỉ là một cơ quan an ninh ngoại vi của chính phủ cộng sản Việt nam, cho nên sau vài lần được các nhân viên người Khmer gốc Bắc Việt công tác tại Bộ Nội Vụ của Cam bốt phỏng vấn thì tôi đã bị từ chối quy chế tỵ nạn chính trị với lý do là là tôi không có giấy chứng nhận đã từng bị tù đày hay bất cứ một loại giấy tờ tùy thân nào do CSVN cấp phát cả. Đến lúc này, tôi mới phát hiện ra là tôi đã tự chui vào cái bẫy giết người do Bộ Nội vụ Cam bốt cùng chính phủ CSVN áp lực lên Phủ Cao Ủy Liên Hiệp Quốc Đặc Trách Về Người Tỵ Nạn (UNHCR) tại đây, giăng ra để bắt giết những người bất cộng đái thiên với cộng sản đang sống ngoài vòng pháp luật như tôi.&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;b&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;div style="line-height: 115%; margin-bottom: 12pt;"&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="font-family: Times New Roman; font-size: small;"&gt;Quá tuyệt vọng vì đang ở vào tình thế tấn thối lưỡng nan, tôi tìm đến một Hội Thánh Tin Lành của người Việt tỵ nạn tại Phnom Penh để xin tá túc và tôi đã nhận được sự giúp đỡ của Hội Thánh cũng như sự che chở đùm bọc của lãnh đạo Hội Thánh và của các anh em tín hữu ở đây, cũng là người cùng cảnh ngộ. Chính tại nơi đây tôi có điều kiện gặp gỡ nhiều người tỵ nạn cộng sản khác và cũng chính từ nơi đây mà tôi cũng được mở mắt ra để biết thêm về cái thế giới tỵ nạn cộng sản tại Cam bốt sao mà nghiệt ngã và phức tạp đến thế! Chính cái thế giới tỵ nạn nhỏ bé này đã dẫn dắt tôi đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác, càng tìm hiểu về nó tôi càng bàng hoàng càng sững sốt, nhưng có lẽ điều mà tôi ngạc nhiên và sững sốt nhiều hơn cả là bên cạnh những gia đình người tỵ nạn sống nheo nhóc, nhếch nhác, chen chúc trong những căn phòng chật hẹp, u tối và bẩn thỉu với những kiếp đời tối tăm, không định hướng, không tương lai, với từng ngày sống áo chẳng đủ lành, cơm chẳng đủ no, thì lại tồn tại một người tỵ nạn khác rất quyền uy, rất quý tộc, rất đế vương, sở hữu cả súng ngắn, súng dài, sở hữu cả xe hơi đời mới TOYOTA 4 RUNNER và sở hữu cả một tòa biệt thự nguy nga đồ sộ có tường cao hào sâu để bảo vệ: Đó là một người tỵ nạn mang tên Nguyễn Công Cẩm.&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="font-family: Times New Roman; font-size: small;"&gt;&lt;a href="http://rfvn.com/wp-content/uploads/2009/04/nguyencongcam.jpg"&gt;&lt;img alt="" class="alignnone size-full wp-image-2994" height="331" src="http://rfvn.com/wp-content/uploads/2009/04/nguyencongcam.jpg" title="nguyencongcam" width="500" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;b&gt;&lt;br /&gt;&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="font-family: Times New Roman; font-size: small;"&gt;&lt;a href="http://rfvn.com/wp-content/uploads/2009/04/congcam.jpg"&gt;&lt;img alt="" class="alignnone size-full wp-image-2995" height="502" src="http://rfvn.com/wp-content/uploads/2009/04/congcam.jpg" title="congcam" width="360" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="line-height: 115%; margin-bottom: 12pt;"&gt;&lt;b&gt;Nhưng rồi điều ngạc nhiên đó đã được sáng tỏ khi vào một ngày cuối tháng Ba năm 2007, khoảng 3 ngày sau khi tôi nhận được quyết định từ chối tư cách tỵ nạn của Phủ Cao Ủy Tỵ Nạn Của Liên Hiệp Quốc tại Cam bốt, thì Nguyễn Công Cẩm đến tìm gặp tôi tại Hội thánh nơi tôi đang tạm trú, anh ta gọi tôi ra một nơi vắng, không xa Hội Thánh mấy, để bắt đầu câu chuyện. Cẩm đã giới thiệu với tôi rằng ngoài quân hàm trung tá mà anh ta đang mang của ngành an ninh thuộc hoàng gia Cam Bốt, thì bản thân anh ta là sỹ quan tình báo thuộc tổng cục an ninh của Bộ Công An (CS)&amp;nbsp;Việt nam, rằng cơ quan an ninh của CS&amp;nbsp;Việt nam đã theo dõi và biết rất rõ những hoạt động chống cộng của tôi từ lâu.&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="line-height: 115%; margin-bottom: 12pt;"&gt;&lt;b&gt;&lt;br /&gt;&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="line-height: 115%; margin-bottom: 12pt;"&gt;&lt;b&gt;&lt;br /&gt;&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="line-height: 115%; margin-bottom: 12pt; text-align: center;"&gt;&lt;b&gt;&lt;a href="http://rfvn.com/wp-content/uploads/2009/04/ngovantai.png"&gt;&lt;img alt="" class="alignnone size-full wp-image-2996" height="504" src="http://rfvn.com/wp-content/uploads/2009/04/ngovantai.png" title="ngovantai" width="368" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="line-height: 115%; margin-bottom: 12pt; text-align: center;"&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="color: maroon; font-family: &amp;quot;Arial&amp;quot;,&amp;quot;sans-serif&amp;quot;; font-size: 10.5pt;"&gt;&lt;i&gt;Biệt Kích Ngô Văn Tài với giấy chứng nhận của Liên Hiệp Quốc&lt;/i&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="line-height: 115%; margin-bottom: 12pt;"&gt;&lt;b&gt;&lt;br /&gt;&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="line-height: 115%; margin-bottom: 12pt;"&gt;&lt;b&gt;Họ cũng biết rất rõ là tôi đã sang Cam Bốt xin tỵ nạn và đã bị từ chối tư cách tỵ nạn, rằng sinh mạng của tôi đang nằm trong tay của cơ quan an ninh (CS) Việt nam mà đại diện cho cơ quan này tại đây chính là Nguyễn Công Cẩm; rằng anh ta có thể bắt tôi để giải giao về Việt nam bất cứ lúc nào anh ta muốn. Tuy nhiên “để thể hiện tính nhân đạo và khoan hồng của đảng và nhà nước, chỉ đánh người chạy đi, chứ không đánh người chạy lại”, cơ quan an ninh của Việt nam muốn mở cho tôi một con đường sống, đó là tôi phải hợp tác với cơ quan an ninh Việt Nam, làm ăng-ten cho anh ta, theo dõi mọi hoạt động của hội thánh nơi tôi đang ở, theo dõi mọi hoạt động của mục sư quản nhiệm, của ban chấp sự Hội thánh và của cả những người tỵ nạn Việt nam thường tới lui Hội Thánh, cũng như những mối quan hệ của Mục sư với bất cứ ai… tôi đều phải ghi nhận và báo cáo hàng tuần cho anh ta… Với thời gian làm việc cho anh ta là ba năm, sau đó bản thân anh ta và cơ quan của anh ta sẽ can thiệp với cơ quan pháp luật của Việt nam để họ chỉ xử án tôi 1 năm tù, và sau 1 năm tù ở thì tôi sẽ được trả tự do… Nếu tôi chấp nhận việc móc nối của anh ta, thì anh ta sẽ sắp xếp cho tôi được gặp cấp trên của anh ta. Để khủng bố tinh thần của tôi, hòng khiến tôi phải chấp nhận sự móc nối này, Nguyễn Công Cẩm đã không ngần ngại nói cho tôi biết rằng, trong thời gian vừa qua, có nhiều người Việt tỵ nạn tại Cam bốt đã từng bị bắt cóc dẫn độ về Việt nam chịu án, chắc với tuổi đời và sự từng trải như tôi thì tôi phải hiểu ai là tác giả của những vụ bắt cóc đó…&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;b&gt;Không cần suy nghĩ gì thêm, tôi đã thẳng thắn trả lời với Nguyễn Công Cẩm rằng chống cộng để thủ tiêu chế độ cộng sản trên quê hương Việt nam là mục tiêu duy nhất của đời tôi và nhiều chiến hữu của tôi đã bỏ mình vì mục tiêu đó, nên tôi thà chết chứ không bao giờ phản bội lý tưởng của mình, không bao giờ phản bội lại những chiến hữu của mình. Vô cùng bất ngờ và tức giận trước câu trả lời của tôi, nhưng Nguyễn Công Cẩm cố giữ bình tĩnh, dặn dò tôi rằng anh ta nghiêm cấm tôi không được tiết lộ với ai rằng anh ta là sỹ quan an ninh của Việt nam cũng như tuyệt đối không được tiết lộ với ai về việc móc nối bất thành đó… rồi anh ta ra về. Tôi biết rằng, từ đây, Nguyễn Công Cẩm sẵn sàng thủ tiêu tôi vào bất cứ lúc nào để bịt đầu mối, nên liên tiếp những chuổi ngày sau đó tôi luôn sống trong tâm trạng âu lo triền miên.&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Dù vậy vì muốn bảo vệ an toàn tính mạng cho những người Việt tỵ nạn khác, tôi đã không ngần ngại tiết lộ cho họ biết Nguyễn Công Cẩm là ai để họ có biện pháp phòng tránh cho bản thân. Thật đáng tiếc thay, một số nhà dân chủ trẻ khi đến Cam Bốt lánh nạn, dù đã nhận được lời cảnh báo của tôi rồi, nhưng do lòng hiếu thắng và khinh xuất của tuổi trẻ mà họ phải lâm nạn như trường hợp của nhà dân chủ trẻ Lê Trí Tuệ. Một số nhà dân chủ trẻ khác, trong một cuộc “đại yến” chia tay với “anh Cẩm”, để lên đường đi định cư ở Hoa kỳ, thậm chí còn mách lại với Nguyễn Công Cẩm rằng: “Chú Tài và mục sư Lũy nói với em rằng anh Cẩm là sỹ quan an ninh của cộng sản, nhưng em không tin đâu, em chỉ ước mong tất cả mọi người cộng sản đều tốt như anh vậy để dânViệt mình đỡ khổ, mà bản thân em cũng khỏi phải đi tỵ nạn như thế này”. Than ôi! Trung ngôn nghịch nhĩ! Trung ngôn nghịch nhĩ! Vi nhân nan! Vi nhân nan! Làm người sao khó quá! Chỉ vì lòng yêu thương, chỉ vì muốn che chở bảo vệ cho những chiến sỹ dân chủ trẻ mà tôi đã chuốc vạ vào thân! Không lâu sau khi nhà dân chủ trẻ này tiết lộ điều này với Nguyễn Công Cẩm thì anh ta đã đến nơi tôi đang trú ngụ gặp tôi, đưa cho tôi một gói cà phê bột và nói rằng thấy tôi không có việc làm, không có thu nhập, chắc là đời sống vật chất khó khăn lắm, nên Cẩm muốn giúp tôi có nguồn thu nhập bằng cách đưa tôi vào rừng đào cây kiểng cho anh ta, bù lại anh ta sẽ nuôi cơm tôi và trả công cho tôi thật bội hậu.&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&lt;br /&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;b&gt;&amp;nbsp;&lt;a href="http://rfvn.com/wp-content/uploads/2009/04/camcong.jpg"&gt;&lt;img alt="" class="alignnone size-full wp-image-3000" height="504" src="http://rfvn.com/wp-content/uploads/2009/04/camcong.jpg" title="camcong" width="351" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="color: maroon; font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 10.5pt;"&gt;&lt;i&gt;Nguyễn Công Cẩm cũng có giấy tị nạn của Liên Hiệp Quốc với tên Nguyễn Cẩm Công&lt;/i&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;b&gt;&lt;br /&gt;&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt;"&gt;Nguyễn Công Cẩm là người sinh tại huyện Quảng Điền, Thừa Thiên Huế. Tất cả mọi người ở Cam Bốt đều biết anh ta với tên CẨM và gọi theo tên NGUYỄN CÔNG CẨM, kể cả vợ con của anh ta. Nhưng trong giấy tờ do UNHCR cấp thì anh ta mang tên NGUYỄN CẨM CÔNG và sinh tại Sài Gòn. Ngoài ra trong quân đội Hoàng gia Cam Bốt thì Nguyễn Công Cẩm lại mang tên LY HENG.&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt;"&gt;Tôi hiểu được rằng ngày tôi phải trả giá cho lòng căm thù cộng sản của tôi đang đến rất gần nên tôi đã phải giả vờ ốm nặng không thể đi lao động được, để trì hoãn và tìm kế thoát thân. Và thừa lúc cuộc xung đột biên giới Thái-Miên nổ ra cả bộ nội vụ Cam Bốt lẫn Nguyễn Công Cẩm bị lôi vào những công tác liên quan đến cuộc xung đột này, tôi đã bí mật rời khỏi Cam Bốt, đến một nước láng giềng, vào tòa đại sứ của một quốc gia phương Tây xin tỵ nạn. Với sự giúp đở của các chiến hữu cũ của tôi trong lực lượng Lôi Hổ, với sự can thiệp kịp thời của các tổ chức quốc tế nhân quyền, và đặc biệt là với sự giúp đở của tiến sỹ Nguyễn Đình Thắng, giám đốc điều hành của tổ chức cứu người vượt biển Boatpeople SOS, hồ sơ tái định cư ở đệ tam quốc gia để đoàn tụ với gia đình tôi đang ở vào giai đoạn cuối cùng. Với sự bình an trước những ngày được đến bến bờ tự do, tôi xin được ghi lại hành trình đi tỵ nạn của tôi, cũng như những nghiệt ngã, những uẩn khúc trong cuộc đời tỵ nạn và những hiểm họa tiềm tàng mà người Việt tỵ nạn tại Cam Bốt đã và đang phải đối mặt từng ngày. Với ước mong những thông tin của tôi sẽ góp một phần nhỏ, như một thông báo về một “địa chỉ đỏ” vô cùng hiểm nghèo trong thế giới người Việt tỵ nạn cộng sản tại Cam Bốt mà mọi người phải biết, cần phải tránh để giảm thiểu đến mức thấp nhất những rủi ro mà trước đây thầy Thích Trí Lực, nhà đối kháng chính trị Hồ Long Đức và nhà dân chủ trẻ Lê Trí Tuệ đã phải gánh chịu, bởi nếu lại cứ chủ quan, khinh xuất, hoặc nếu không nhận diện được ai là bạn, ai là thù trong cộng đồng tỵ nạn thì hiểm họa đến với bản thân sẽ thật khó lường!&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="font-family: &amp;quot;Times New Roman&amp;quot;,&amp;quot;serif&amp;quot;; font-size: 12pt;"&gt;&lt;i&gt;Mùa Lễ Phục Sinh 2009&lt;/i&gt;&lt;br /&gt;Tango Ngô Văn Tài&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/4274400117116119553-3072343077420781559?l=anhhungvaphanboi.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://anhhungvaphanboi.blogspot.com/feeds/3072343077420781559/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=4274400117116119553&amp;postID=3072343077420781559' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/4274400117116119553/posts/default/3072343077420781559'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/4274400117116119553/posts/default/3072343077420781559'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://anhhungvaphanboi.blogspot.com/2010/02/canh-bao-ve-mot-ia-chi-o-tai-cam-bot.html' title='Cảnh Báo Về Một Địa Chỉ Đỏ Tại Cam Bốt'/><author><name>Nha Kỹ Thuật</name><uri>http://www.blogger.com/profile/00058869536112748808</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='26' height='32' src='http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SKrYhjfyioI/AAAAAAAAC0w/Z-Pv_vtrYCM/S220/phamhoasize07.jpg'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-4274400117116119553.post-1966461798809410612</id><published>2010-02-08T17:30:00.000-08:00</published><updated>2010-02-08T18:03:04.690-08:00</updated><title type='text'>BK Nguyễn Văn Tần tức Tango Ngô Văn Tài</title><content type='html'>&lt;div&gt;&lt;div class="separator" style="clear: both; text-align: center;"&gt;&lt;a href="http://4.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/S3C7PR-w5hI/AAAAAAAAKGs/52_JwUImAGM/s1600-h/NguyenCongCam4.jpg" imageanchor="1" style="margin-left: 1em; margin-right: 1em;"&gt;&lt;img border="0" height="300" src="http://4.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/S3C7PR-w5hI/AAAAAAAAKGs/52_JwUImAGM/s400/NguyenCongCam4.jpg" width="400" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;/div&gt;&lt;b&gt;Thong Bao .&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;b&gt;Tong Hoi NKT vua nhan duoc email cua Ch/h Doan Huu Dinh FW. va dinh kem bai viet cua BKQ/LOI HO Nguyen van Tan tuc Ngo van Tai ma co thoi gian chung ta muon giup Anh den noi ben bo Tu Do nhung vi nhung loi&amp;nbsp; Anh cho biet ly lich khong dung su that .Nen chung ta danh bo tay .&amp;nbsp;&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;b&gt;Nay Anh da den ben bo Tu Do&amp;nbsp; roi , xin quy Nien Truong ,Chien Huu gia dinh NKT nen can trong , tim hieu them de NKT khong bi loi dung boi&amp;nbsp; mot ca nhan nao &lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;b&gt;Kinh thong bao &lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;b&gt;Ch/h Vo Tan Y &lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;b&gt;Tong Hoi Truong &lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="gmail_quote"&gt;&lt;b&gt;Qui anh than men,&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="gmail_quote"&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="gmail_quote"&gt;&lt;b&gt;Chac qui anh khong quen nguoi tu gioi thieu la BKQ/LH (NGUYỄN VĂN TẦN Tức TANGO NGÔ VĂN TÀi) ma TS NDThang, Boat People SOS&amp;nbsp;da hoi y kien cua anh em trong NKT de bao tro cho anh ay nhap canh HK.&amp;nbsp; Vi co qua nhieu yeu to khong trung thuc va khong dung voi su that trong loi khai cua anh ay ma anh em chung ta phai bo tay khong giup gi duoc.&amp;nbsp;&amp;nbsp;Gio day anh ay bat dau len tieng.&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="gmail_quote"&gt;&lt;b&gt;Xin TH/NKT thong bao lai gap cho tat ca anh em chung ta biet de luu y hanh vi cua duong su vi chung ta khong muon mot ca nhan khong phai trong hang ngu chung ta loi dung bat chinh danh xung cua NKT.&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="gmail_quote"&gt;&lt;b&gt;Than men,&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="gmail_quote"&gt;&lt;b&gt;DHDinh&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;b&gt;&lt;br /&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;-------------------------------------------&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;From: &lt;a href="http://us.mc527.mail.yahoo.com/mc/compose?to=lhcsqlvnch@gmail.com" rel="nofollow" target="_blank"&gt;lhcsqlvnch@gmail.com&lt;/a&gt;[&lt;a href="http://us.mc527.mail.yahoo.com/mc/compose?to=SMTP%3ALHCSQLVNCH@GMAIL.COM" rel="nofollow" target="_blank"&gt;SMTP:LHCSQLVNCH@GMAIL.COM&lt;/a&gt;]&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Sent: Monday, February 08, 2010 4:17:29 AM&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;To: &lt;a href="http://us.mc527.mail.yahoo.com/mc/compose?to=tapchidanvan@yahoo.de" rel="nofollow" target="_blank"&gt;tapchidanvan@yahoo.de&lt;/a&gt;; &lt;a href="http://us.mc527.mail.yahoo.com/mc/compose?to=vietvungvinh@yahoo.com" rel="nofollow" target="_blank"&gt;vietvungvinh@yahoo.com&lt;/a&gt;; &lt;a href="http://us.mc527.mail.yahoo.com/mc/compose?to=vietvuongnhi@yahoo.com" rel="nofollow" target="_blank"&gt;vietvuongnhi@yahoo.com&lt;/a&gt;;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&amp;nbsp;&lt;a href="http://us.mc527.mail.yahoo.com/mc/compose?to=admin@vietland.net" rel="nofollow" target="_blank"&gt;admin@vietland.net&lt;/a&gt;; &lt;a href="http://us.mc527.mail.yahoo.com/mc/compose?to=vietnamexodus@yahoo.com" rel="nofollow" target="_blank"&gt;vietnamexodus@yahoo.com&lt;/a&gt;; &lt;a href="http://us.mc527.mail.yahoo.com/mc/compose?to=ttv204@free.fr" rel="nofollow" target="_blank"&gt;ttv204@free.fr&lt;/a&gt;;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&amp;nbsp;&lt;a href="http://us.mc527.mail.yahoo.com/mc/compose?to=congdonghoalan@gmail.com" rel="nofollow" target="_blank"&gt;congdonghoalan@gmail.com&lt;/a&gt;; &lt;a href="http://us.mc527.mail.yahoo.com/mc/compose?to=congdongthudo@hotmail.com" rel="nofollow" target="_blank"&gt;congdongthudo@hotmail.com&lt;/a&gt;;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&amp;nbsp;&lt;a href="http://us.mc527.mail.yahoo.com/mc/compose?to=nghialinh126@yahoo.com" rel="nofollow" target="_blank"&gt;nghialinh126@yahoo.com&lt;/a&gt;; &lt;a href="http://us.mc527.mail.yahoo.com/mc/compose?to=thanhnienthienchi@gmail.com" rel="nofollow" target="_blank"&gt;thanhnienthienchi@gmail.com&lt;/a&gt;; &lt;a href="http://us.mc527.mail.yahoo.com/mc/compose?to=buihung@vietbao.com" rel="nofollow" target="_blank"&gt;buihung@vietbao.com&lt;/a&gt;;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&amp;nbsp;&lt;a href="http://us.mc527.mail.yahoo.com/mc/compose?to=toquocdanhdutrachnhiem@yahoo.com" rel="nofollow" target="_blank"&gt;toquocdanhdutrachnhiem@yahoo.com&lt;/a&gt;; &lt;a href="http://us.mc527.mail.yahoo.com/mc/compose?to=lachongmagazine@comcast.net" rel="nofollow" target="_blank"&gt;lachongmagazine@comcast.net&lt;/a&gt;;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&amp;nbsp;&lt;a href="http://us.mc527.mail.yahoo.com/mc/compose?to=PhilaAsianNews@aol.com" rel="nofollow" target="_blank"&gt;PhilaAsianNews@aol.com&lt;/a&gt;; Doan, Dinh (USADC); &lt;a href="http://us.mc527.mail.yahoo.com/mc/compose?to=trongvvo@yahoo.com" rel="nofollow" target="_blank"&gt;trongvvo@yahoo.com&lt;/a&gt;;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&amp;nbsp;&lt;a href="http://us.mc527.mail.yahoo.com/mc/compose?to=lh3415@aol.com" rel="nofollow" target="_blank"&gt;lh3415@aol.com&lt;/a&gt;; &lt;a href="http://us.mc527.mail.yahoo.com/mc/compose?to=s.nguyen-le@mce-bank.eu" rel="nofollow" target="_blank"&gt;s.nguyen-le@mce-bank.eu&lt;/a&gt;; &lt;a href="http://us.mc527.mail.yahoo.com/mc/compose?to=ple151@yahoo.com.au" rel="nofollow" target="_blank"&gt;ple151@yahoo.com.au&lt;/a&gt;;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&amp;nbsp;&lt;a href="http://us.mc527.mail.yahoo.com/mc/compose?to=lmqpvn06@gmail.com" rel="nofollow" target="_blank"&gt;lmqpvn06@gmail.com&lt;/a&gt;; &lt;a href="http://us.mc527.mail.yahoo.com/mc/compose?to=daovanbinh@sbcglobal.net" rel="nofollow" target="_blank"&gt;daovanbinh@sbcglobal.net&lt;/a&gt;; &lt;a href="http://us.mc527.mail.yahoo.com/mc/compose?to=dcbinh38@hotmail.com" rel="nofollow" target="_blank"&gt;dcbinh38@hotmail.com&lt;/a&gt;;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&amp;nbsp;&lt;a href="http://us.mc527.mail.yahoo.com/mc/compose?to=hoahoanglan011@yahoo.com" rel="nofollow" target="_blank"&gt;hoahoanglan011@yahoo.com&lt;/a&gt;; &lt;a href="http://us.mc527.mail.yahoo.com/mc/compose?to=sarahdo1999@gmail.com" rel="nofollow" target="_blank"&gt;sarahdo1999@gmail.com&lt;/a&gt;; &lt;a href="http://us.mc527.mail.yahoo.com/mc/compose?to=phiendan2000@yahoo.com" rel="nofollow" target="_blank"&gt;phiendan2000@yahoo.com&lt;/a&gt;;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&lt;br /&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Subject: Chúc  M?ng Bi?t Kích Quân Lôi H? NGUY?N VAN T?N T?c TANGO NGÔ VAN TÀi dã d?n b?n b? t? do.&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt; &lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Liên Hội Chiến Sỹ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa vừa được tin qua đài phát thanh Việt nam Úc Châu cho biết Biệt kích quân NGÔ VĂN TÀI thuộc chiến đoàn I Non Nước Đà Nẵng, sau hơn 34 năm lưu vong trên chính tổ quốc của mình, vừa đến San Jose California, USA, bình an.&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt; &lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Xin Chúc mừng chiến hữu NGÔ VĂN TÀI đã thoát được bức màn thép của cộng sản và đã đến bến bờ tự do để đoàn tụ với gia đình. Kính mong Nha kỹ Thuật, Sở Liên Lạc và các niên trưởng thuộc lực lượng biệt kích hết lòng giúp đở cho chiến hữu NGÔ VĂN TÀI (Tức Biệt Kích Quân Nguyễn Văn Tần)&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt; &lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Xin trân trọng giới thiệu một bài viết của chiến hữu Ngô Văn Tài&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&lt;br /&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;B'KAN  TRẬN CHIẾN KHÔNG CÂN SỨC&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt; &lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Tango NGÔ VĂN TÀI&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt; &lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;B’Kan, Trận Chiến Không  Cân Sức&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt; &lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Tango Ngô Văn Tài&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&lt;a href="http://i193.photobucket.com/albums/z205/dongson1002/NguyenCongCam4.jpg" rel="nofollow" target="_blank"&gt;http://i193.photobucket.com/albums/z205/dongson1002/NguyenCongCam4.jpg&lt;/a&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Biệt Kích Tango Ngô Văn Tài, chiến đoàn 1 Lôi Hổ tại Non Nước - Đà Nẳng trước 1975&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt; &lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;KBC: Tác giả bài viết này là C/H Ngô Văn Tài, một nguời tỵ nạn Cộng sản chạy sang Cam Bốt tầm trú với Cao Uỷ Tỵ Nạn LHQ nhưng nay đã phải chạy sang Thái Lan lánh nạn một lần nữa để tránh sự trả thù vì anh đã can đảm vạch mặt chỉ tên điệp viên CSVN nằm vùng, giả dạng tỵ nạn là Nguyễn Công Cẩm. Ngô Văn Tài tên thật là Nguyễn Văn Tần, truớc tháng Tư 1975 là 1 quân nhân (thuộc Chiến đoàn 1 Xung kích. Sau 30/4/1975 anh không chịu buông súng, bỏ vào rừng Đơn Dương cùng 1 số chiến hữu tiếp tục kháng chiến. Khi sa cơ, bị bắt giam ở trại Đại Bình chờ ngày bị đưa ra Toà anh vượt ngụclấy tên giả chờ ngày có cơ hội hoạtđộng lại. Khi tung tích bị lộ anh Tài kịp thời đào thoát sang Cam Bốt xin tỵ nạn chính trị. Xin giới thiệu với quý độc giả trang KBC và các chiến hữu những hồi ức tưởng niệm các đồng đội của anh đã hy sinh vì lý tuởng Tự do, Dân chủ.&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&lt;br /&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Thù nhà nợ nuớc trả chưa xong&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Ngày tháng thoi đưa mãi nặng lòng&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Uất hận quê nhà bao tiếng khóc&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Căm thù giặc Cộng phải lưu  vong&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt; &lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&lt;br /&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Cho chúng tôi trăm ngàn cây súng&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Muôn lòng như một, mối thù chung&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Quyết trở về một phen sống mái&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Diệt loài Cộng phỉ, lũ tàn hung&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt; &lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;(Kính dâng anh linh những chiến hữu đã nằm xuống trên núi rừng Đơn Dương)&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&lt;br /&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Trong căn phòng cô tịch, sau khi đọc hết quyển “Những trận chiến không tên trong quân sử” mà nguời bạn mới quen tận tay trao tặng, tôi hai tay ôm chặt quyển sách vào long như ôm cả quê hương miền Nam thân yêu, tưởng như anh linh và hình bóng của các Tướng, Tá, Úy, Sĩ năm xưa cũng phảng phất quanh đây. Tôi miên man nghĩ đến những người đã vì Tự do, Dân chủ, Công bằng yên vui của quê huơng, đồng bào đã “Vị quốc vong thân” hay bị đày đọa trong ngục tù. Cộng sản từ Nam chí Bắc … những người đã tự xử để bảo toàn danh tiết, hoặc những người sau khi từ “địa ngục trần gian” trở về đã lại mưu tìm chiến hữu, lập kế hoạch phục quốc nhưng một lần nữa sa cơ, gánh chịu them bản án 12 năm tù khổ sai ở Z30A Đồng Nai … Và tôi không khỏi nhớ đến các chiến hữu thân yêu của tôi trong Tiểu đoàn Lê Lợi, Trung đoàn 8, Binh đoàn 2 Chí nguyện quân Đông Dương. Những dòng chữ này xin được thay cho nén hương tuởng nhớ đến anh linh các anh …&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&lt;br /&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Họ là những sĩ quan, hạ sĩ quan QLVNCH đầu năm 1976 đã trốn khỏi nhà tù Don Bosco ở Phát Chi, Trạm Hành thuộc quận Đơn Dương , tỉnh Tuyên Đức để cùng với những trai tráng, người dân yêu nước ở làng Lạc Lâm, quận Đơn Dương đứng lên cầm súng vào rừng lập chiến khu chống lại sự chiếm đóng của Cộng sản Bắc Việt. Họ là những quân nhân thuộc đủ mọi binh chủng khác nhau, từ Trinh sát Tiểu khu An Xuyên, Thuỷ quân lục chiến, Nhảy dù, Biệt động quân, Chiến tranh chính trị, hay Bộ binh, Địa phương quân, Nghĩa quân … Họ đã đụng độ nhiều trận máu lửa với bộ đội Trung đoàn 22 VC (E 22) như trận M’rang, Dom, B’Kan, Đồi pháo binh, hồ Con ruà,La Boui và Sông Pha. Trong số những trận giao chiến với E 22 VC thì trận đánh B’Kan là đáng nhắc tới hơn cả, dù trận này không lớn, tổn thất nhân mạng hai bên không nhiều như các trận La Boui và hồ Con ruà, nhưng vì trận B’Kan biểu lộ hết sự dã man, vô nhân đạo, không lương tri của Việt Cộng khi chúng lùa thân nhân ruột thịt của những nguời chống lại chúng ra làm bia đỡ đạn, và sau đó những người chết không được chôn cất tử tế. B’Kan là một làng Thượng nhỏ cách quận lỵ Đơn Dương chừng 6 – 7 km, và cách quốc lộ 20 chừng 3 km, nằm sát chân núi Chabou, một nhánh của dãy Trường Sơn, phân giới của quận Đơn Dương, Đà Lạt và Sông Pha, Phan Rang. Cách làng B’Kan chừng 1 cây số có 1 hầm đá ăn sâu vào trong núi, nhìn bao quát từ bên ngoài thì chỉ là một số phiến đá lớn nhỏ nằm chồng chất ở chân núi, ẩn hiện trong đám cây cối không mấy rậm rạp, không ai ngờ đó lại là 1 căn hầm đá có thể chứa được khoảng 10 nguời. Đó cũng là nhờ công của anh em nguời Thượng khám phá ra, đưa chúng tôi vào ẩn núp và dùng nơi đây như một trạm liên lạc. Lối đi trong hang lên xuống ngoắt ngoéo, có chỗ hẹp phải ép sát bụng, hai tay bám vào đá lần dò từng buớc hoặc đi lom khom. Trong hầm có chỗ tối lờ mờ, càng vào sâu càng tối. Chỉ có một lối duy nhất từ ngoài cửa hầm lên hầm chính, rồi từ hầm chính mới có lối lên nóc hầm; trấn giữ được conđường này thì Việt cộng không thể nào tấn công được. Thoạt đầu chúng tôi phải dùng đến địa bàn và đèn pin đểdi chuyển, sau quen dần với khoảng cách và cảnh vật nên chúng tôi có thể sờ ven vào đá để di chuyển tương đối dễ dàng. Vào một buổi sáng sớm đầu tháng Năm 1977, chúng tôi bật dậy vì hàng loạt đạn nổ liên hồi trên nóc hầm, chỗ mà Sùng (bí danh Sony) đang canh gác. &amp;nbsp;soldier2&amp;nbsp; Ai cũng vội vã vơ vũ khí và nghe Sùng thông báo thì thào qua hơi thở “VC tấn công”. Chúng tôi vội leo lên khỏi hầm để vào vị trí chiến đấu, nhưng chưa ổn định xong thì bỗng có một tiếng nổ lớn kinh hoàng chưa bao giờ nghe ngay cửa hầm. Tôi vội vã bịt hai tai, máu huyết trong người nhộn nhạo làm muốn ói.&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Miểng đạn và đá vỡ vụn bay rào rào, và nhiều tiếng nổ dồn dập liên tục, gây áp lực nặng nề làm chúng tôi dường như muốn bất tỉnh sau mỗi tiếng nổ (tôi đoán có lẽ là đạn B40 bắn vào). Sau một loạt tiếng nổ lớn là hàng tràng súng nhỏ bắn loạn xạ trong hầm. Lúc này thì anh em chúng tôi cũng đã cố gắng lần mò vào hết vị trí chiến đấu vì sợ nếu để VC lọt vào và tìm được lối leo lên quăng lựu đạn xuống hầm thì chúng tôi chết hết.&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&lt;br /&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Khi chúng tôi đã lên được trên hầm thì trong của hầm chật hẹp, B40 mất tác dụng vì xạ thủ không thể nào chĩa sung bắn lên, bởi sức phụt hậu dội vào đá sẽ khiến xạ thủ bị thương hoặc có thể chết được. Sùng (Sony) lúc này không thấy xuống, có lẽ anh đã chết ngay loạt đạn đầu tiên trên nóc hầm! Lúc đó có nhiều tiếng vật cứng va chạm vào đá vang lên trong bóng tối, có lẽ là VC lần mò tìm đường! Chúng tôi quăng lựu đạn xuống cửa hầm, lửa nhá lên cùng tiếng nổ hoà lẫn những tiếng kêu thảm thiết của nguời bị thuơng, sau đó là im bặt. Yên lặng được vài phút hàng loạt đạn của VC bắn xối xả trong hầm. Chúng bắn liên tục hết đợt này đến đợt khác, có lẽ chúng bắn như vậy để lôi đồng đội chết hoặc bị thuơng ra. Chúng tôi chịu không thể nhoài nguời ra để ném lựu đạn theo vì sợ trúng đạn chúng đang bắn lien thanh như mưa rào. Hơn nữa số vũ khí của chúng tôi quá hạn chế (tổng cộng chỉ có mỗi nguời vài quả lựu đạn, cùng 3 khẩu M16 và 1 khầu Colt 45 do Sùng giữ. Khẩu M 16 của tôi Sùng xách lên nóc hầm canh gác, có lẽ đã bị VC tịch thu sau cái chết của anh).&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&lt;br /&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Tiếp theo đó là 1 sự yên lặng khủng khiếp! Chúng tôi lắng tai nghe ngóng từng âm thanh, căng mắt cố quan sát kỹ cửa hầm và lối dẫn lên nóc hầm. Thật sự muốn phá được căn hầm này không phải chuyện dễ, chắc chắn VC phải dùng đến rất nhiều thuốc nổ và phải mất nhiều ngày, trong khi đó thì lối đi ngoắt ngoéo, trong hầm lúc nào cũng tối mờ mờ, có chỗ tối đen như mực nên VC không dám liều lĩnh tấn công nên chúng tôi chỉ có thể chết vì đói nếu bị vây hãm lâu ngày. Vì thế VC ngưng tấn công bắt đầu bắc loa kêu chúng tôi ra hàng với giọng điệu lừa phỉnh “để được hưởng khoan hồng, về doàn tụ với gia đình …”. Nhưng khi không thấy có động tĩnh gì, chúng bắt đầu buôn gnhững lời doạ dẫm kèm theo tiếng chửi ruả …&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&lt;br /&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Chửi xong, bỗng lại có những tiếng nổ lớn ở nóc hầm kèm theo nhiều loạt súng nhỏ: VC tìm cách tấn công từ trên xuống! Kỳ (Kilo) rón rén lần theo đá đi lên lối dẫn lên nóc hầmđể ngăn chặn nếu VC tìm cách mò xuống. Anh ở cách chúng tôi không xa, ám hiệu nhận nhau vẫn là tiếng huýt sáo nho nhỏ. Lại có tiếng nổ lớn và hàng loạt AK kèm theo, Kỳ bén chĩa súng bắn vài loạt ngắn về phiá truớc cảnh cáo bọn VC đừng dại dột liều lĩnh tìm cách xuống. Có lẽ VC cũng biết điều ấy nên sau những loạt đạn lại có tiếng kêu đầu hàng từ nóc hầm vọng xuống, rồi lại hàng loạt lời lẽ thô tục được tuôn ra. Đến đây thì chúng tôi bắt đầu đấu võ mồm với bọn VC và lòng tự tin, can đảm tăng dần lên sau cuộc đấu võ mồm này.&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&lt;br /&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Trời tối dần, Kỳ (Kilo) lần mò tìm chỗ gài lựu đạn đề phòng đêm khuya bọn chuột VC mò xuống, xong anh báo cho chúng tôi biết chỗ có lựu đạn gài. Tôi mò xuống căn hầm chính, chui xuống khe đá lấy đầy 3 bi đông nuớc và mang theo túi gạo lên hầm. Sau khi bàn bạc cho kế hoạch dự trù cho đêm nay, chúng tôi mỗi nguời tự đọc kinhcầu nguyện Thiên Chuá che chở ban cho bằng an và cũng không quên cầu cho linh hồn nguời bạn Sùng mà Chuá đã gọi về buổi sáng nay! Rồi trong yên lặng chúng tôi chia phiên nhau gác và lấy gạo ra ăn để lấy sức cầm cự!&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&lt;br /&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;*&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&lt;br /&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Sang ngày thứ hai thì chúng tôi kinh hoàng lo lắng bởi vì không còn nghe những tiếng nổ của B40 hay AK , lựu đạn từ cửa hầm vọng vào nữa mà thay vào đó là tiếng của nguời than chúng tôi bên ngoài đang vọng vào kêu gọi chúng tôi hãy ra đầu hàng! VC bắt từng gia đình một nhoài người qua tảng đá nhìn xuống cửa hầm lên tiếng gọi nguời thân. Lúc đó tiếng nguời cô ruột của tôi vang lên , tiếng cô trong nuớc mắt gọi vọng từ ngoài vào cửa hầm. Lòng tôi quặn thắt đau đớn, tôi chụp khẩu súng M16 của Nghĩa (tự Negro) chĩa vào tảng đá ngay truớc mặt nằm ở duới bắn một loạt ngắn, mục đích là để khuyến cáo gia đình đừng vào, vì nhất định nếu gia đình thân nhân chúng tôi vì sức ép của VC mà vào trong hầm thì sẽ thật là một thảm họa kinh hoàng chưa từng có! Lúc ấy bỗng có tiếng nguời huyên náo ở ngoài phản đối VC dùng nguời thân của chúng tôi làm bia đỡ đạn cho chúng! Lại có tiếng thách thức VC “các anh vào mà bắt, các anh đã từng đánh thắng đến 2 đế quốc đầu sỏ, đã đánh cho Mỹ cút Ngụy nhào thế mà bây giờ chỉ có vài thằng phản động mà các anh lại phải dùng đến nguời thân làm bia đỡ đạn à?” Ngay sau đó&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&lt;br /&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;là những tiếng gào khóc phản đối vì bọn VC đánh nguời, đẩy nguời vào&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&lt;br /&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;chỗ chết! Theo dõi diễn biến bên ngoài, chúng tôi thấy thuơng xót cho gia đình quá! Bất chấp hiểm nguy họ đã dung xác thân và miệng lưỡi cố kéo dài thời gian để cho nguời thân là chúng tôi&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&lt;br /&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;được sống. Có lẽ trời đã quá trưa. Tiếng cãi cọ, tiếng kêu gọi chúng tôi ra đầu hang rời rạc và thưa thớt dần, sau đó lại là một sự yên lặng bao phủ. Chúng tôi tự hỏi “chuyện gì sẽ xảy ra tiếp theo nữa đây?” Chúng tôi như những con thú bị săn đuổi và nay bị vây ở buớc đường cùng. Tuy nhiên chúng tôi tự nhủ “không thể chết! chúng tôi phải sống và không còn con đường nào khác ngoài việc phải thoát khỏi căn hầm này trong đêm nay! Trong cái chết có cái sống, mặc dù sự sống rất mong manh nhưng chúng tôi không có quyền tự xử vì thân xác này là của trời đất, nhất là chúng tôi không đủ can đảm tự kết liễu đời mình vì long ai cũng vẫn khao khát sống, vẫn còn nhiều hy vọng dù phải nhận thực là hy vọng cũng rất mỏng manh! Đã 2 ngày qua chúng tôi nguời nào cũng cầu nguyện xin Chuá ban cho bằng an và giờ đây, những giờ phút sắp tới chúng tôi nghĩ có thể là giờ phút cuối cùng của đời người, chúng tôi thầm thì dọn mình xin Chuá tha thứ cho tất cả những lỗi lầm đã phạm và cầu xin được ơn che chở! Rồi chúng tôi dõi mắt chăm chú nhìn xuống cửa hầm, tai vểnh lên nghe ngóng, Kỳ thì rón rén lần mò men theo những phiến đá đi gỡ những trái lựu đạn đã gài hôm qua. Trời lúc này có lẽ đã khuya lắm rồi, chúng tôi cùng nắm tay nhau như một lời khuyến khích cùng can đảm lên, cầu chúc cho nhau được bình yên. Kỳ (Kilo) xuống cửa hầm truớc , Nghĩa trao cho tôi khẩu M16 cùng mấy băng đạn và lấy lại khẩu Colt 45 (của Sùng). Tôi không nhận nhưng anh nhất định đẩy vào tay tôi. Nắm chặt súng, trong tư thế sẵn sàng yểm trợ cho Kỳ, tôi nghe tiếng rõ tiếng tim đập thình thịch trong lồng ngực mình,(thậm chí chúng tôi dường như có thể nghe được cả tiếng nuốt nuớc miếng của nhau)… Hơi thở dồn dập, trời không lạnh mà sao run run, tay lại uớt nhờn mồ hôi … Có tiếng huýt sáo khe khẽ ở cửa hầm vọng lên, chúng tôi từng buớc bám theo đá lần mò đi xuống cửa hầm … miệng khô khốc, hơi thở đứt quãng, dán nguời vào đá lần đi từng buớc cố gắng không để gây nên một tiếng động … Khi đã gặp nhau ở cửa hầm, chúng tôi yên lặng quan sát kỹ phiá trước mặt và hai bên ngoài cửa hầm … cố vận dụng mọi giác quan đến mức tối đa . Ở bên ngoài, cách không xa có nhiều đốm lửa được đốt lên theo hình cánh cung, cứ khoảng chừng 50, 60 m một đống lửa . Vì thế cả một vùng trời rực sang màu lửa đỏ trông rợn người … nhìnquanh không thấy bóng nguời nhưng chúng tôi đoán, huớng đối diện của hầm, trong khoảng tối đen ngòm đó có một toán VC đang phục kích chờ đợi bắt sống chúng tôi! Hít một hơi daì, đưa tay làm dấu thánh giá trên mình xong, thu hết can đảm, nép vào bên phải cửa hầm, chúng tôi lần lượt nối gót theo Kỳ chạy lom khom núp vào những phiến đá và các lùm cây với ý định mở đường máu chạy lên núi. Và ngay khi đó, hàng loạt AK xen kẽ M79 thi nhau nổ từ nhiều huớng đổ xuống chúng tôi! Dội nguợc trở lại, theo phản ứng tự nhiên, chúng tôi nhào về phiá không có đạn nổ, vượt qua một con lạch cạn rộng chừng 1 thuớc. Tôi trượt chân té xuống con lạch, nghe tiếng đạn nổ như mưa, tiếng hô xung phong của VC, và lẻ loi có tiếng kêu Chuá ơi của Nghĩa (Negro)! Lúc đó có tiếng súng của Kỳ bắn từng loạt chặn buớc tiến công của VC, cùng tiếng anh hô “chạy đi, theo tao”. Tôi rút chốt trái lựu đạnh, định vung tay ném về huớng bọn VC thì một tiếng nổ lớn trên bờ, gần con lạch chỗ tôi bị té. Lấy hết sức bình sinh tôi ném quả lựu đạn về hướng VC, mắt chợt nhìn thấy Nghĩa đang nằm bất động cách con lạch chừng 2m. Tôi vọt lên khỏi lạch vừa chạy vừa bắn về đống lửa bên tay trái cách tôi không xa. Tôi chạy về huớng trước mặt vài chục mét rồi quẹo ngay sang trái vì sợ phục kích, ném thêm một trái lựu đạn nữa nguợc về phiá sau và băng mình vào các lùm cây thưa thớt lẫn trong màn đêm để thoát thân …&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&lt;br /&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Mấy ngày sau chúng tôi được tin Thiếu uý Đinh Chính Nghĩa đã tử thuơng thân thể không toàn vẹn. Ngoài những vết đạn lỗ chỗ trên người, đầu anh nát bét vì bị sức công phá của trái lựu đạn anh cầm trên tay khi gục ngã! Bọn CS địa phuơng bắt gia đình chị Sương nhận xác anh Nghĩa về chôn, Bất chấp chị phản đối rằng nếu đó là xác anh Sương thì phải có một cái bướu bằng quả ổi nằm ngay eo, bên hông trái phiá sau lưng, chúng vẫn khăng khăng bắt chị nhận đem chôn!&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&lt;br /&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;(Tiếp theo kỳ sau)&lt;/b&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/4274400117116119553-1966461798809410612?l=anhhungvaphanboi.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://anhhungvaphanboi.blogspot.com/feeds/1966461798809410612/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=4274400117116119553&amp;postID=1966461798809410612' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/4274400117116119553/posts/default/1966461798809410612'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/4274400117116119553/posts/default/1966461798809410612'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://anhhungvaphanboi.blogspot.com/2010/02/bk-nguyen-van-tan-tuc-ngo-van-tai.html' title='BK Nguyễn Văn Tần tức Tango Ngô Văn Tài'/><author><name>Nha Kỹ Thuật</name><uri>http://www.blogger.com/profile/00058869536112748808</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='26' height='32' src='http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SKrYhjfyioI/AAAAAAAAC0w/Z-Pv_vtrYCM/S220/phamhoasize07.jpg'/></author><media:thumbnail xmlns:media='http://search.yahoo.com/mrss/' url='http://4.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/S3C7PR-w5hI/AAAAAAAAKGs/52_JwUImAGM/s72-c/NguyenCongCam4.jpg' height='72' width='72'/><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-4274400117116119553.post-2119824920759697817</id><published>2009-09-16T07:18:00.000-07:00</published><updated>2010-02-08T17:28:33.579-08:00</updated><title type='text'>Ngụy Văn Thà</title><content type='html'>&lt;div align="center"&gt;&lt;a href="http://2.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SrD1je46L2I/AAAAAAAAGUM/aLAR3Oy_LrI/s1600-h/70650-big_VN-NguyVanTha-K12-HQ.jpg"&gt;&lt;img alt="" border="0" id="BLOGGER_PHOTO_ID_5382071544643727202" src="http://2.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SrD1je46L2I/AAAAAAAAGUM/aLAR3Oy_LrI/s400/70650-big_VN-NguyVanTha-K12-HQ.jpg" style="display: block; height: 269px; margin: 0px auto 10px; text-align: center; width: 400px;" /&gt;&lt;/a&gt;Thủ Khoa Hải Quân &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Ngụy Văn Thà xuất thân khoá 12 Sĩ quan Hải quân Nha Trang. Hạm Phó Tuần Dương Hạm Ngô Quyền HQ17, trước khi thuyên chuyển qua làm Hạm Trưởng Hộ Tống Hạm Nhật Tảo HQ10, để rồi hy sinh trong trận hải chiến.Thân xác ông, vị Hạm Trưởng đã chìm theo chiến hạm ngoài khơi Hoàng Sa.&lt;br /&gt;Mai sau tên ông sẽ còn được biết đến mãi để nhắc nhở mọi người "Hoàng Sa muôn đời phải là cuả Việt Nam"&lt;br /&gt;&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div align="center"&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="color: #000066;"&gt;&lt;i&gt;NGƯỜI ANH HÙNG HỌ NGỤY&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="color: #990000;"&gt;Người yêu nước không thể nào là ngụy&lt;br /&gt;Người chết vì nước như anh không thể nào là ngụy&lt;br /&gt;Nhưng anh :&lt;br /&gt;Là Ngụy Văn Thà (*)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Anh- hạm trưởng chiến hạm Nhật Tảo&lt;br /&gt;Lao thẳng vào tàu giặc cướp&lt;br /&gt;Tên anh còn mãi với Hoàng Sa&lt;br /&gt;Biển vật mình thét đại bác&lt;br /&gt;Giặc bủa vây chiến dịch biển người&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Lửa dựng trời dìm tàu giặc&lt;br /&gt;Máu anh cùng đồng đội ngời ngời&lt;br /&gt;Ôm chặt tàu&lt;br /&gt;Ôm chặt đảo&lt;br /&gt;Anh hóa thành Tổ Quốc giữa trùng khơi&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Gió mùa đông bắc gào khóc&lt;br /&gt;Ngụy Văn Thà&lt;br /&gt;Mãi mãi neo tàu vào quần đảo&lt;br /&gt;Tổ Quốc ngoài Hoàng Sa&lt;br /&gt;Trận chiến ba mươi phút&lt;br /&gt;Tượng đài anh là phong ba&lt;br /&gt;Đỉnh sóng khói hương nghi ngút&lt;br /&gt;Biển để tang anh bằng sóng bạc đầu &lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div align="center"&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="color: #000066;"&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="color: #990000;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;b&gt;&lt;i&gt;&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;&lt;a href="http://2.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SrD1p41UYaI/AAAAAAAAGUU/jsbl8vCqla8/s1600-h/NguyVanTha.jpg"&gt;&lt;img alt="" border="0" id="BLOGGER_PHOTO_ID_5382071654687203746" src="http://2.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SrD1p41UYaI/AAAAAAAAGUU/jsbl8vCqla8/s400/NguyVanTha.jpg" style="display: block; height: 285px; margin: 0px auto 10px; text-align: center; width: 244px;" /&gt; &lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;div align="center"&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="color: #000066;"&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="color: #990000;"&gt;Quần đảo nhấp nhô mộ phần liệt sĩ&lt;br /&gt;Linh hồn anh hú gọi đất liền&lt;br /&gt;Ngụy Văn Thà&lt;br /&gt;Tên anh không phải bài ca&lt;br /&gt;Tên anh là lời thề độc :&lt;br /&gt;- Phải giành lại Hoàng Sa&lt;br /&gt;Sóng vẫn vồ lấy đảo…&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;Sài Gòn 15-9-2009&lt;br /&gt;Trần Mạnh Hảo&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(*) Ghi chú : Theo báo Tuổi Trẻ ra ngày 14-9-2009 : liệt sĩ thiếu tá Ngụy Văn Thà hạm trưởng chiến hạm Nhật Tảo HQ-10 của hải quân Việt Nam Cộng Hòa và đồng đội đã anh dũng hi sinh bảo vệ đảo Hoàng Sa ( cùng các chiến hạm khác : HQ-4,HQ-5,HQ-16) trong trận hải chiến đẫm máu với tàu Trung Quốc xâm lược ngày 19-01-1974 &lt;/i&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://4.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SrD100Tml-I/AAAAAAAAGUc/WFq29sSiabw/s1600-h/NguyVanTha_HQ-10-NhatTao.jpg"&gt;&lt;img alt="" border="0" id="BLOGGER_PHOTO_ID_5382071842450610146" src="http://4.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SrD100Tml-I/AAAAAAAAGUc/WFq29sSiabw/s400/NguyVanTha_HQ-10-NhatTao.jpg" style="display: block; height: 235px; margin: 0px auto 10px; text-align: center; width: 400px;" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;/div&gt;Phóng sự - Ký sự&lt;br /&gt;Thứ Ba, 08/09/2009, 06:31 (GMT+7)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hoàng Sa - tường trình 35 năm sau&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;TT - Hơn 35 năm trước, những người con đất Việt đã nhận lệnh vượt trùng dương ra quần đảo Hoàng Sa canh giữ biển trời Tổ quốc. Họ tự hào ra đi trong tâm thế của người Việt ra canh giữ đảo biển của người Việt! Bây giờ nhắc lại, mắt họ rưng rưng, tim họ nghẹn lại khi Hoàng Sa vẫn còn trong tay nước ngoài. &lt;br /&gt;&lt;a href="http://3.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SrPpnX8UmgI/AAAAAAAAGUk/kfEiLjt8iXo/s1600-h/1a.JPG"&gt;&lt;img alt="" border="0" id="BLOGGER_PHOTO_ID_5382902842289068546" src="http://3.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SrPpnX8UmgI/AAAAAAAAGUk/kfEiLjt8iXo/s400/1a.JPG" style="display: block; height: 301px; margin: 0px auto 10px; text-align: center; width: 400px;" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;Quân đồn trú Pháp - Việt chào cờ trên đảo Hoàng Sa&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Từ số báo này, Tuổi Trẻ đăng tải hồi ức của những người từng canh giữ biển trời Hoàng Sa 35 năm trước. Thời gian dài trôi qua, nhưng những gì tận mắt họ chứng kiến, những gì họ trực tiếp tham gia không thể phai mờ trong tâm trí.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Kỳ 1:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hoàng Sa trong ký ức một đảo trưởng &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://4.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SrPp-KsSchI/AAAAAAAAGUs/bVVgiIdn8Hs/s1600-h/2a.JPG"&gt;&lt;img alt="" border="0" id="BLOGGER_PHOTO_ID_5382903233869148690" src="http://4.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SrPp-KsSchI/AAAAAAAAGUs/bVVgiIdn8Hs/s400/2a.JPG" style="display: block; height: 400px; margin: 0px auto 10px; text-align: center; width: 301px;" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;Ông Nguyễn Văn Đức&lt;br /&gt;Cách nay đúng 40 năm, ông Nguyễn Văn Đức đã cùng các cộng sự vượt trùng dương đến với Hoàng Sa. Nhiệm vụ của ông là canh giữ biển trời Tổ quốc với chức vụ là đảo trưởng theo lệnh của Bộ chỉ huy biệt khu Quảng Đà. Lúc đó ông vừa tròn 22 tuổi, là một trong những đảo trưởng trẻ nhất từng làm nhiệm vụ trấn giữ tại quần đảo Hoàng Sa.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;1. Mái đầu ông Nguyễn Văn Đức đã điểm muối tiêu của tuổi ngoài 60. Hỏi ngày nào đáng nhớ trong cuộc đời của mình, ông trả lời không chút đắn đo: “Đó là ngày 14-10-1969, tôi nhận được tờ sự vụ lệnh biên chế về trung đội Hoàng Sa ra đảo làm nhiệm vụ dưới chức danh đảo trưởng”.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Buột miệng hỏi ông về những lo lắng trước lúc lên đường làm nhiệm vụ, ông phản ứng: “Tại sao phải lo lắng? Đó là đất của cha ông mình để lại, là máu mủ thân yêu của Tổ quốc nên chúng tôi ra đi như lẽ bình thường, hiển nhiên. Chẳng có chút gì phải lo sợ khi chúng tôi đi trong tâm thế của một người Việt ra canh giữ đảo biển của người Việt! Khi đó quần đảo Hoàng Sa thuộc quyền kiểm soát của chính quyền Sài Gòn, thuộc về người Việt, đó là sự thật lịch sử không thể chối cãi”.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Một ngày cuối tháng 10-1969, ông Đức cùng trung đội Hoàng Sa gồm 34 người và bốn nhân viên khí tượng rời cảng Tiên Sa (Đà Nẵng) lên đường làm nhiệm vụ. Sau hơn 24 giờ lênh đênh trên biển, Hoàng Sa thân yêu hiện dần lên trước mắt ông.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ông Đức nhớ lại: “Lúc đầu biển khá êm, nhưng khi rời đất liền được khoảng hơn 100km thì sóng lớn dần. Từ xa Hoàng Sa hiện lên giữa nền xanh của đại dương. Bao bọc quanh Hoàng Sa là những rạn san hô rộng lớn, vì thế chúng tôi không thể cặp tàu vào được mà phải dùng canô để chuyển quân và quân trang vào đảo. Trên đảo có một tòa nhà lớn được xây dựng từ thời Pháp thuộc, cao khoảng 8m, tường dày 2m dành cho đảo trưởng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong phòng làm việc của đảo trưởng có một bức tường ghi tên tất cả những người lính đã ra đây giữ đảo. Và tên của chúng tôi đã được ghi lên đó, đó là niềm vinh dự lớn lao của một người con đất Việt. Xung quanh đảo là những rừng cây, tuy không to lớn nhưng cũng đủ để che chắn nắng gió cho lính đảo. Hình ảnh lần đầu tiên đặt chân lên mảnh đất tuyệt đẹp của Tổ quốc nơi xa đến bây giờ tôi vẫn còn nhớ y nguyên. Xúc động lắm”.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;2. Ông Nguyễn Văn Đức kể: “Nhiệm vụ của chúng tôi là đo đạc, báo cáo về sở chỉ huy ở đất liền những tin tức ở Hoàng Sa mỗi ngày. Anh em khí tượng làm nhiệm vụ quan trắc và báo cáo tình hình thời tiết để phục vụ cho tàu bè lưu thông trong vùng. Trang bị vũ trang lúc ấy không nhiều, chỉ có hai khẩu đại liên 50mm nhưng anh em vẫn kiểm soát được toàn bộ quần đảo Hoàng Sa. Tàu bè quốc tế ngang qua đều tôn trọng chủ quyền của chúng ta, và chúng ta cũng sẵn sàng hỗ trợ tàu bè khi gặp bão tố. Những lúc rảnh rỗi chúng tôi thường dùng canô đi qua các đảo lân cận để chơi vì cảnh quan ở đây rất hữu tình. Đảo Cát, đảo Chim, đảo Elbe, đảo Duncan, đảo Drumond... chúng tôi đều đã đặt chân đến”.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tờ sự vụ lệnh quyết định điều chuẩn úy Nguyễn Văn Đức làm đảo trưởng Hoàng Sa tháng 10-1969 trong đợt thay quân thứ 38 của quân đội chính quyền Sài Gòn tại Hoàng Sa - Ảnh: Thế Anh&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trầm ngâm nhớ lại những ngày tháng gắn bó với mảnh đất xa xôi của Tổ quốc, cựu chuẩn úy Nguyễn Văn Đức kể tiếp: “Khi thủy triều xuống, cả rạn san hô hiện lên tuyệt đẹp như một rừng hoa biển. Mỗi khi nhớ đất liền, anh em lại lấy vài cành san hô bỏ vô chậu, bắt vài con cá nhỏ ngồi ngắm nghía bên tách cà phê đen. Có sống ở đảo mới thấy nhớ đất liền, yêu quê cha đất tổ. Thời tiết ở đây khá ôn hòa nhưng gió mạnh lắm, nhiều khi anh em bị gió đẩy ngã sóng soài. Tuy vất vả, thiếu thốn nhưng anh em thấy vui và hãnh diện khi được trấn giữ biển đảo quê nhà”.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ông nói có hai di tích ở đảo Hoàng Sa ông không thể nào quên. Đó là cái miếu nhỏ ở góc đảo mà anh em lính đảo vẫn thường ra đó để tìm chút an bình giữa sóng gió.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ông kể: “Mỗi khi sóng to gió lớn hay thấy lòng bất an, anh em chúng tôi thường tìm đến ngôi miếu. Lạ lắm, chỉ cần ngửi thấy mùi nhang khói là cảm giác ở xa đất liền như được gần lại. Hơn nữa, mùi nhang khói như gợi lên những tiềm thức về quê cha đất tổ, nhớ về nguồn cội. Đó là những điều cần thiết để những người con đất Việt như chúng tôi yên lòng nơi đầu sóng ngọn gió giữ gìn biển đảo của cha ông để lại. Cạnh đó là một nghĩa trang có hơn 30 ngôi mộ là hài cốt của những chiến sĩ người Việt ngã xuống vì bệnh tật nơi đảo xa, là nắm xương của những người con Việt đã nằm xuống sau những lần đụng độ với âm mưu xâm lược của ngoại bang.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ở đó còn có cả hài cốt của những ngư dân từ miền Trung, miền Bắc gặp nạn trên đường mưu sinh. Và cũng có cả những nắm xương của lính nước ngoài bị chúng ta hạ gục khi âm mưu đánh chiếm đảo. Có một điều là chúng tôi không phân biệt địch ta khi họ đã ngã xuống, mỗi ngày rằm hay cuối tháng chúng tôi đều thắp nhang lên những nấm mồ hoang. Có lẽ đó là một nét đặc biệt của người Việt mình, là một hành xử đầy tính nhân văn, “lấy nhân nghĩa để thắng hung tàn” mà mỗi người Việt chúng ta còn lưu giữ được từ dòng máu Lạc Hồng!”. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SrPrKgRhtxI/AAAAAAAAGU0/KshtRtgfywI/s1600-h/4a.JPG"&gt;&lt;img alt="" border="0" id="BLOGGER_PHOTO_ID_5382904545332541202" src="http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SrPrKgRhtxI/AAAAAAAAGU0/KshtRtgfywI/s400/4a.JPG" style="display: block; height: 400px; margin: 0px auto 10px; text-align: center; width: 301px;" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;Bia chủ quyền VN ở Hoàng Sa được dựng vào những năm 1930 (ảnh chụp tại phòng lưu trữ tư liệu Hoàng Sa, Đà Nẵng)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;3. Ngày 19-1-1974, ngày quân Trung Quốc dùng vũ lực đánh chiếm Hoàng Sa - một phần máu xương của Tổ quốc VN, là ngày ông Đức cảm thấy đau đớn nhất trong cuộc đời mình. Ông xúc động kể lại: “Khi hay tin Hoàng Sa bị quân Trung Quốc tước đoạt bằng vũ lực, tôi đau đớn đến mức nước mắt không thể chảy được, lòng dạ như ai xát muối. Tôi biết ngoài kia những đứa con của đất Việt sẽ phải đổ máu vì quê hương. Tôi đau vì một mảnh đất tuyệt đẹp và giàu có của nước nhà đã bị ngoại bang vô cớ cướp đoạt. Đó là nỗi đau của một người con đất Việt!”.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Là một người từng học và hiểu biết về luật quốc tế, ngay trong ngày Hoàng Sa bị chiếm đó ông đã âm thầm lục tìm lại những tài liệu liên quan, gói ghém cẩn thận nhằm làm bằng chứng chủ quyền của VN đối với quần đảo Hoàng Sa. Đó là tờ sự vụ lệnh đã nhàu nát và úa vàng vì thời gian.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;35 năm sau, ông Đức quyết định liên hệ với chính quyền và báo Tuổi Trẻ để cung cấp những bằng chứng quý báu đó. Có lẽ những ai quen biết ông đều không mấy khó hiểu về hành động yêu nước của ông khi biết trong ngày 30-4-1975, ông đã từng xuống tàu để rời Việt Nam, nhưng trong một tích tắc của thời khắc lịch sử ông đã nhảy lại lên bờ, bởi ông biết không nơi đâu bằng quê hương.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ông Đức lần giở lại tờ sự vụ lệnh năm nào rồi nói: “Chừng nào Hoàng Sa vẫn còn trong tay ngoại bang thì niềm vui vẫn chưa thể gọi là trọn vẹn được. Tôi sợ rằng lớp trẻ sẽ quên mất Hoàng Sa, sẽ quên mất một phần máu thịt của Tổ quốc, sẽ quên mất rằng có rất nhiều người con của đất Việt đã ngã xuống vì Hoàng Sa trong ngày đáng nhớ 19-1-1974”. Có lẽ đó không chỉ là điều trăn trở của riêng ông.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Phóng sự - Ký sự&lt;br /&gt;Thứ Tư, 09/09/2009, 16:05 (GMT+7)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hoàng Sa - tường trình 35 năm sau - Kỳ 2: Biển động&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SrPr8IvDFFI/AAAAAAAAGVE/z9BzbwFHTu0/s1600-h/5.JPG"&gt;&lt;img alt="" border="0" id="BLOGGER_PHOTO_ID_5382905398007370834" src="http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SrPr8IvDFFI/AAAAAAAAGVE/z9BzbwFHTu0/s400/5.JPG" style="display: block; height: 400px; margin: 0px auto 10px; text-align: center; width: 301px;" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;Ông Lữ Công Bảy &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;TT - Tác giả câu chuyện này là người đã có mặt trong cuộc hải chiến Hoàng Sa 35 năm trước: ông Lữ Công Bảy - quân nhân trên chiến hạm Trần Khánh Dư HQ-4. Sau ngày giải phóng 1975, ông Bảy vẫn ở lại VN, phục vụ trong lực lượng hải quân quân đội nhân dân VN. Hiện ông là nhân viên bảo vệ của Đài truyền hình VN tại TP.HCM.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Kỳ 1: Hoàng Sa trong ký ức một đảo trưởng&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Khi tôi ghi lại những dòng hồi ký này, sự việc đã xảy ra 35 năm (1974 - 2009). Đã 35 năm trôi qua, những gì tận mắt tôi đã chứng kiến, những gì tôi đã trực tiếp tham gia trong trận hải chiến với hải quân Trung Quốc tại quần đảo Hoàng Sa ngày 19-1-1974 vẫn không phai mờ trong tâm trí tôi.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Lúc bấy giờ tôi là thượng sĩ giám lộ (giám sát lộ trình - hàng hải) trên khu trục hạm Trần Khánh Dư HQ-4 (chiến hạm tối tân nhất của hải quân Sài Gòn thời bấy giờ) với chức danh hạ sĩ quan phụ tá trưởng ngành giám lộ, kiêm hạ sĩ quan phụ tá trưởng khối hành quân.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Với chức danh đó, lúc nào (trong nhiệm sở tác chiến hay hải hành) tôi đều phải có mặt thường xuyên trên đài chỉ huy, thường xuyên bên hạm trưởng Vũ Hữu San (trung tá hải quân). Nhiệm vụ của anh em chúng tôi là ghi lại nhật ký tác chiến, nhật ký hàng hải, xác định vị trí của chiến hạm, đồng thời nhận và chuyển những tài liệu bằng đèn và cờ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hôm ấy, ngày 16-1-1974, gió mùa đông bắc thổi mạnh trên biển Đông. Biển động mạnh. Chiến hạm chúng tôi đang tuần tiễu vùng biển Quảng Ngãi từ Sa Huỳnh đến cù lao Ré (đảo Lý Sơn). Đây đã là ngày thứ 14 lênh đênh trên biển. Chỉ còn một ngày nữa chiến hạm sẽ được về Đà Nẵng nghỉ bến, anh em thủy thủ đoàn rộn ràng nghĩ đến ngày được vào đất liền.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Chưa kịp dùng cơm trưa thì từ trung tâm truyền tin đưa lên đài chỉ huy một công điện thượng khẩn: lệnh cho tàu về ngay Đà Nẵng. 17 giờ tàu về đến quân cảng Đà Nẵng (cảng Tiên Sa). Hạm trưởng San và đại úy Diên - trưởng khối hành quân, được lệnh lên họp khẩn cấp ở trung tâm hành quân Bộ tư lệnh hải quân vùng 1 duyên hải. Từ trung tâm hành quân, hạm trưởng điện về tàu lệnh cho ban ẩm thực lên bờ đi chợ (tiếp tế lương thực).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;20 giờ hạm trưởng San về tàu. Lệnh cấm trại 100% được ban ra. Ban cơ khí chuẩn bị bắt ống để nhận dầu và nước ngọt. Đến 21g, hai chiếc xe GMC chở một trung đội với đầy đủ vũ khí đạn dược xuất hiện. Lần đầu tiên trước mắt tôi được chứng kiến một toán quân mặc quân phục lạ lùng. Sau một hồi dọ hỏi tôi mới biết đây là lực lượng biệt hải. Tôi được lệnh từ đại úy Diên chuẩn bị hải đồ đi Hoàng Sa. 23g, tàu khẩn cấp rời cảng Tiên Sa trực chỉ Hoàng Sa. Tôi cảm giác có một chuyện gì lớn lao sắp xảy ra.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngày N+1&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;11g30 ngày 17-1, khu trục hạm Trần Khánh Dư HQ-4 đã có mặt tại quần đảo Hoàng Sa. Trước đó ngày 16-1, tuần dương hạm Lý Thường Kiệt HQ-16 do hải quân trung tá Lê Văn Thự làm hạm trưởng cũng đã có mặt tại Hoàng Sa.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;HQ-4 tiến gần đảo Vĩnh Lạc. Còi tác chiến vang lên, tất cả thủy thủ đoàn đã sẵn sàng ở vị trí chiến đấu. 14 giờ, trung đội biệt hải được lệnh rời tàu trên ba xuồng cao su, 20 phút sau trung đội biệt hải đã đổ bộ lên rìa đảo an toàn và nhận lệnh tiến sâu vào đảo lục soát.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Báo cáo từ đoàn quân gửi về: không phát hiện gì ngoài vài nấm mộ hình như mới đắp, không có bia, chỉ có cọc gỗ và bảng gỗ đóng trước đầu mộ ghi bằng chữ Trung Quốc với ngày sinh và ngày chết hàng mấy chục năm về trước.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Các chiến sĩ biệt hải được lệnh đào bới các nấm mộ giả lên, hóa ra chẳng thấy xương cốt gì cả. Đây là những nấm mộ ngụy tạo mà ai đó đã dựng lên để chứng tỏ có người Trung Quốc đã sống và chết trên đảo mà thôi. 16g30, lực lượng biệt hải được lệnh rút về tàu.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đến buổi chiều, phòng chiến báo theo dõi qua hệ thống rađa tầm xa đã phát hiện hai mục tiêu trên biển đang di chuyển đến quần đảo Hoàng Sa. Từ nóc đài chỉ huy, các bộ phận quan sát bằng ống nhòm đã nhìn thấy hai tàu chiến lạ. Trung tâm chiến báo được lệnh theo dõi và báo cáo thường xuyên mọi hoạt động, hướng đi, khoảng cách của hai tàu trên.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đêm 17 rạng 18-1 là một đêm cực kỳ căng thẳng. Còi nhiệm sở tác chiến báo động suốt đêm. Phía Trung Quốc tăng cường lực lượng và cố tình khiêu khích, các chiến hạm của họ tiến sâu vào lãnh hải Hoàng Sa. Tàu HQ-4 và HQ-16 dùng tín hiệu cảnh cáo: Đây là lãnh hải của Việt Nam. Yêu cầu các ông hãy rời khỏi đây ngay! Phía Trung Quốc đáp trả, cho rằng Hoàng Sa là của họ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://2.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SrPsa7CdYxI/AAAAAAAAGVM/nmm__sSprlw/s1600-h/6.JPG"&gt;&lt;img alt="" border="0" id="BLOGGER_PHOTO_ID_5382905926906635026" src="http://2.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SrPsa7CdYxI/AAAAAAAAGVM/nmm__sSprlw/s400/6.JPG" style="display: block; height: 260px; margin: 0px auto 10px; text-align: center; width: 400px;" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tàu đánh cá vũ trang Trung Quốc chặn đường tàu VN trên đường ra Hoàng Sa&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngày N+2&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sáng 18-1, chiến hạm HQ-4 của chúng tôi tiến về đảo Cam Tuyền. Lúc 8g, trung đội biệt hải được lệnh đổ bộ lên đảo. Sau khi lục soát chỉ phát hiện những nấm mộ mới đắp không hài cốt y như ở đảo Vĩnh Lạc.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đến 11g, đài khí tượng và quân đồn trú đảo Hoàng Sa báo cáo có hai tàu đánh cá vũ trang mang cờ Trung Quốc xâm nhập và tiến gần đến đảo Hoàng Sa, tàu HQ 4 và HQ 16 được lệnh tiến về đảo Hoàng Sa. Khi tiến đến gần tàu đánh cá vũ trang của Trung Quốc, tàu HQ-4 dùng tín hiệu cảnh cáo và đuổi đi nhưng cả hai tàu Trung Quốc cố tình khiêu khích.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tàu HQ-4 tiến thẳng đến một tàu đánh cá vũ trang Trung Quốc. Trên tàu có khoảng 30 thuyền viên mặc đồng phục màu xanh dương đậm. Tàu được trang bị hai thượng liên (một đằng trước mũi và một đằng sau lái tàu), ngoài ra có rất nhiều súng AK 47. Tàu HQ-4 quyết định áp sát mạn tàu đánh cá Trung Quốc để xua đuổi.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hai bên đánh nhau bằng... võ mồm. Thấy không tác dụng, tàu HQ-4 lùi ra dùng mũi tàu ủi thẳng vào tàu Trung Quốc, mũi tàu HQ-4 và neo mũi vướng vào cửa và hành lang phòng lái làm gãy hành lang và cong cửa phòng lái của tàu Trung Quốc. Trước thái độ cương quyết của hải quân VN, họ vội vàng tháo lui. Chiến hạm HQ-16 cũng quyết liệt xua đuổi tàu đánh cá vũ trang còn lại.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cũng trong sáng 18-1, tuần dương hạm Trần Bình Trọng HQ-5 do trung tá hải quân Phạm Trọng Quỳnh làm hạm trưởng được lệnh tăng cường ra Hoàng Sa. Cùng đi trên HQ-5 có đại tá Hà Văn Ngạc, được giao nhiệm vụ chỉ huy trưởng lực lượng bảo vệ Hoàng Sa. Ngoài ra, đi theo tàu có một trung đội người nhái (lực lượng đặc biệt của hải quân).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Lúc 15g30 chiều 18-1, lệnh đại tá Ngạc cho ba chiến hạm HQ-4, HQ-5, HQ-16 sắp đội hình hàng dọc tiến thẳng về đảo Duy Mộng. Khoảng 16g, có hai tàu chiến Trung Quốc bắt đầu khiêu khích, cắt đường ngang mũi HQ-4 và HQ-16. Đội hình bị chia cắt không thể tiến lên được vì các tàu rất gần nhau, các khẩu đại bác sẵn sàng nhả đạn nhưng không ai được lệnh nổ súng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đêm 18 rạng ngày 19-1, tàu chiến và tàu đánh cá vũ trang Trung Quốc vẫn tiếp tục khiêu khích, tiến đến gần đảo Hoàng Sa. Chiến hạm HQ-4 phải dùng còi hơi thật to và đèn hồ quang trên nóc đài chỉ huy rọi thẳng vào đội hình tàu Trung Quốc. Tình hình dịu hơn khi tàu Trung Quốc rút lui về hướng bắc.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đến nửa đêm, hộ tống hạm Nhật Tảo HQ-10 do thiếu tá hải quân Ngụy Văn Thà làm hạm trưởng đã ra chi viện cho lực lượng bảo vệ Hoàng Sa.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;LỮ CÔNG BẢY (còn tiếp)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Phóng sự - Ký sự&lt;br /&gt;Thứ Hai, 14/09/2009, 10:00 (GMT+7)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hoàng Sa - tường trình 35 năm sau: 30 phút và 35 năm&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;TT - Cả ngày 17 và 18-1-1974, biển Đông dậy sóng. Phía Trung Quốc tăng cường lực lượng và cố tình khiêu khích, các chiến hạm của họ tiến sâu vào lãnh hải phía tây quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Đến nửa đêm 18-1, hộ tống hạm Nhật Tảo HQ-10 đã ra đến nơi chi viện. Đêm ấy, bầu trời Hoàng Sa tối đen như mực, một đêm cực kỳ căng thẳng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Khu trục hạm Trần Khánh Dư HQ-4, tuần dương hạm Lý Thường Kiệt HQ-16, tuần dương hạm Trần Bình Trọng HQ-5 đã có mặt ở đó chuẩn bị tình huống đối phó.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ông Lữ Công Bảy, người đã có mặt trong cuộc hải chiến Hoàng Sa 35 năm trước trong vai trò là thượng sĩ giám lộ trên chiến hạm HQ-4, tiếp tục thuật lại câu chuyện “Hoàng Sa - tường trình 35 năm sau” (Tuổi Trẻ ngày 8 và 9-9-2009).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&amp;gt;&amp;gt; Hoàng Sa - tường trình 35 năm sau - Kỳ 1: Hoàng Sa trong ký ức một đảo trưởng&lt;br /&gt;&amp;gt;&amp;gt; Hoàng Sa - tường trình 35 năm sau - Kỳ 2: Biển động&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngày N+3&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Lúc 6g sáng 19-1-1974, khu trục hạm Trần Khánh Dư HQ-4 đã tiến sát đảo Quang Hòa và trung đội biệt hải được lệnh đổ bộ khẩn cấp lên đảo. Không một tàu chiến nào của Trung Quốc phát hiện được HQ-4 và tuần dương hạm Trần Bình Trọng HQ-5.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sơ đồ các hướng tấn công trận hải chiến Hoàng Sa ngày 19-1-1974&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Khi gần đến đảo, bằng ống nhòm và mắt thường từ đài chỉ huy, chúng tôi đã phát hiện doanh trại mới toanh và cột cờ có cờ Trung Quốc (trước đó hơn một tháng, HQ-4 trong một chuyến khảo sát quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền Việt Nam đã không phát hiện gì ngoài chai lọ trôi tấp lên bãi cát). Chúng tôi hiểu rằng quân Trung Quốc đã bí mật chiếm đảo. Hai mươi phút sau, lực lượng biệt hải đổ bộ lên đảo (mặt đông nam). Lực lượng đổ bộ cắm cờ Việt Nam lên bờ cát và hốc đá, rồi khẩn cấp tiến vào bên trong đảo.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong khi đó, lực lượng người nhái vẫn còn ngoài xa chưa vào được vì HQ-5 không thể vào sát bờ, gió mùa đông bắc thổi khá mạnh, các xuồng cao su bị sóng gió giật dữ dội không vào bờ được. HQ-5 phải thả tàu cứu hộ xuống để kéo các xuồng cao su vào. Từ đài chỉ huy, bộ phận quan sát chúng tôi đã phát hiện một tàu Trung Quốc đang đổ bộ một đội quân đông đảo lên phía bắc đảo, hàng trăm quân Trung Quốc ồ ạt vào đảo rất nhanh vì xuôi gió.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://4.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SrP6IMlqxlI/AAAAAAAAGVs/dPEfpLGBGOk/s1600-h/2.JPG"&gt;&lt;img alt="" border="0" id="BLOGGER_PHOTO_ID_5382920998362990162" src="http://4.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SrP6IMlqxlI/AAAAAAAAGVs/dPEfpLGBGOk/s400/2.JPG" style="display: block; height: 284px; margin: 0px auto 10px; text-align: center; width: 400px;" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Khu trục hạm Trần Khánh Dư HQ-4 - một trong bốn tàu tham gia trận hải chiến Hoàng Sa năm 1974 - Ảnh tư liệu&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thế rồi báo cáo bất lợi dồn dập gửi về đài chỉ huy tàu HQ-4. Một số đông quân Trung Quốc nấp sau các tảng đá chĩa thẳng mũi súng vào đội hình biệt hải. Trên mặt biển lúc ấy, chúng tôi thấy tuần dương hạm Lý Thường Kiệt HQ-16 và hộ tống hạm Nhật Tảo HQ-10 đang tiến về rìa tây nam đảo, theo sau là bốn tàu chiến Trung Quốc đang tiến vào đội hình của ta. Tình hình bắt đầu căng thẳng, báo hiệu một trận đụng độ sinh tử không thể nào tránh khỏi. Trong khi đó ở phía bắc đảo, những chiếc tàu đánh cá vũ trang Trung Quốc tiếp tục cho đổ người ồ ạt lên đảo của ta.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Và họ nổ súng trước. Vào lúc 8g30, một loạt đạn đại liên và cối 82 bắn vào đội hình người nhái Việt Nam làm hai binh sĩ tử thương và hai bị thương. Nhưng chỉ huy phía Việt Nam không thể ra lệnh cho các tàu nổ súng vì lực lượng người nhái đang ở vị trí cực kỳ nguy hiểm.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Lệnh nổ súng&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Lúc đó, sát bên tàu HQ-4 của chúng tôi đã xuất hiện hai tàu chiến Kronstadt của Trung Quốc mang số hiệu 274 và 271 sơn màu xám đen, trang bị đại bác 100 li và nhiều đại bác 37 li. Các họng súng đại bác Trung Quốc đều đang chĩa thẳng vào tàu HQ-4.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;* Ngay sau khi Trung Quốc dùng vũ lực xâm chiếm toàn bộ các đảo phía tây quần đảo Hoàng Sa do VN quản lý, ngày 19-1-1974 và 14-2-1974 chính quyền Sài Gòn đã ra tuyên cáo về việc Trung Quốc “xâm lăng trắng trợn bằng quân sự” và tái khẳng định về chủ quyền của VN đối với Hoàng Sa.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;* Ngày 20-1-1974, ngoại trưởng chính quyền Sài Gòn cũng đã gọi điện và gửi thư cho chủ tịch Hội đồng Bảo an và tổng thư ký Liên Hiệp Quốc đề nghị những biện pháp cần thiết trước tình hình khẩn cấp về việc Trung Quốc dùng vũ lực xâm chiếm Hoàng sa.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;* Trong khi đó, ngày 26-1-1974, Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam VN cũng đã ra tuyên bố phản đối hành động xâm chiếm Hoàng Sa của Trung Quốc và công bố lập trường “về chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ” của VN.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;* Sau ngày miền Nam giải phóng, Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam VN đã nhiều lần tuyên bố khẳng định Hoàng Sa là của VN. Và ngày 5-6-1976, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Cộng hòa miền Nam VN đã lên tiếng bác bỏ những thông tin xuyên tạc về Hoàng Sa - Trường Sa và khẳng định hai quần đảo này là thuộc chủ quyền VN, từ trước đến nay đều do người VN quản lý.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;B.T.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Các tín hiệu bằng đèn hiệu được liên tục chuyển đến HQ-4. Chúng tôi nhận những tín hiệu từ tàu Trung Quốc và trình cho hạm trưởng HQ-4 Vũ Hữu San. Nghe xong một nội dung cực kỳ khiêu khích từ tàu Trung Quốc, hạm trưởng San tức thì đỏ mặt, quát tháo ầm ĩ. Quay sang chúng tôi, ông ra lệnh không nhận tín hiệu từ tàu Trung Quốc nữa.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vào thời điểm hết sức căng thẳng này, khi trận chiến sắp nổ ra, việc thông tin liên lạc giữa lực lượng bảo vệ Hoàng Sa và Bộ tư lệnh hải quân vùng 1 duyên hải thường xuyên bị đứt. Tần số liên lạc bị phá rối, trên hệ thống bộ đàm chỉ nghe toàn tiếng Hoa. Đại tá Hà Văn Ngạc, lúc đó đang ở trên chiến hạm HQ-5, được giao toàn quyền hành động (lệnh khai hỏa đã được truyền đi từ Bộ tư lệnh hải quân vùng 1 duyên hải trước đó. Nhưng một hồi lâu sau, quyết định nổ súng mới được thực hiện sau cuộc điện đàm giữa đại tá Ngạc và tư lệnh hải quân vùng 1 Hồ Văn Kỳ Thoại - B.T.).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đại tá Ngạc ra lệnh: Tất cả đại bác đều phải hướng lên đảo. Khi nhận lệnh bắn thì tất cả khai hỏa lên đảo, dọn đường lập đầu cầu để biệt hải và người nhái đổ bộ tái chiếm đảo. Đó là lệnh từ soái hạm chỉ huy HQ-5. Nhưng hạm trưởng Vũ Hữu San đã bực bội trước lệnh này. Trước khi chuẩn bị nổ súng, đại tá Hà Văn Ngạc có hỏi ý kiến từng hạm trưởng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đến khi hỏi ý kiến HQ-4, hạm trưởng Vũ Hữu San gằn từng tiếng trong bộ đàm: “Trình đại bàng, tôi là quân nhân, tôi chấp hành quân lệnh nhưng hiện nay nước cờ đã bị lộ, không còn yếu tố bất ngờ, muốn đổ bộ lên chiếm đảo trước mắt phải tiêu diệt lực lượng trên biển trước khi tính đến việc đổ quân, hiện nay số tàu địch gấp đôi tàu ta, quân địch đã đổ bộ từ sáng đến giờ đầy trên đảo, ta chỉ có hai trung đội thì làm sao thành công được?”. Rồi hạm trưởng San nói tiếp: “Tôi là quân nhân, tôi chấp nhận hi sinh vì Tổ quốc, nhưng...”.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ông cúp máy và ra lệnh: “Tất cả khẩu súng nhắm thẳng vào tàu địch!”.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Quyết liệt&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đúng 10g20, bốn chiến hạm HQ-4, HQ-5, HQ-10, HQ-16 đồng loạt khai hỏa. Như đã chuẩn bị trước, hạm trưởng Vũ Hữu San ra lệnh “bắn”. Chiến hạm di chuyển với tốc độ cực nhanh, khói đen bốc lên ngùn ngụt, thân tàu rung lên bần bật vì trúng đạn, vì tiếng dội của các khẩu đại bác vừa khai hỏa.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Chiến hạm HQ-4 chạy uốn lượn như con rắn, hết sang phải lại sang trái nên đã tránh được loạt đạn đại bác của đối phương. Thế rồi các cột nước bùng lên, đạn rít xung quanh tàu vèo vèo. Một mảnh đạn phạt lủng đài chỉ huy, văng ra trúng chân trung úy Roa đang cố gắng theo dõi tàu Trung Quốc qua màn hình rađa. Thượng sĩ nhất giám lộ Ry trúng mảnh đạn nơi cánh tay trái. Hạ sĩ giám lộ Phấn, xạ thủ đại liên 30 trên nóc đài chỉ huy, bị thương nơi ngực, máu thấm đỏ cả áo. Tiếng la ơi ới của các anh em bị thương vọng lên đài chỉ huy.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://2.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SrP5nkQ-OgI/AAAAAAAAGVk/otjsPjZguQ4/s1600-h/3.JPG"&gt;&lt;img alt="" border="0" id="BLOGGER_PHOTO_ID_5382920437782952450" src="http://2.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SrP5nkQ-OgI/AAAAAAAAGVk/otjsPjZguQ4/s400/3.JPG" style="display: block; height: 312px; margin: 0px auto 10px; text-align: center; width: 400px;" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;Tuần dương hạm Trần Bình Trọng HQ-5 - Ảnh tư liệu&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tuy nhiên, chiến hạm HQ-4 vẫn vững vàng trong cuộc hải chiến. Đài quan sát trên nóc báo cáo có tàu Trung Quốc đang đuổi theo. Tôi nhìn ra phía sau vừa thấy hai tàu chiến Trung Quốc. Liền lúc đó từ mạn phải HQ-5 cắt đuôi HQ-4 rồi phóng thẳng vào hai tàu đối phương. Những khối cầu lửa từ mũi HQ-5 bắn ra (đại bác 127 li) bay thẳng vào tàu Trung Quốc. Một chiếc trúng đạn bốc cháy, một chiếc quay ngang và sau đó lãnh đủ hàng loạt đạn từ HQ-4.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nhưng ngay lúc đó, thông tin từ HQ-5 cho biết ụ tháp đại bác 127 li của tàu này đã bị trúng đạn, ba quân nhân tử thương, hai bị thương nặng. HQ-4 vòng lại yểm trợ HQ-5. Không thấy tàu HQ-16 và HQ-10 đâu cả. Liên lạc mãi với hai tàu này vẫn không được.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thật ra lúc ấy tàu HQ-10 đã bị thương nặng. Tàu này nhỏ, cũ kỹ, các khẩu đại bác xoay trở bằng tay nên bị trúng liền hai quả 100 li từ tàu Trung Quốc. Trong bộ đàm tôi đã nghe tiếng bạn tôi, trung sĩ nhất giám lộ Vương Thương, báo cáo: HQ-10 đã bị trúng đạn, hạm trưởng Ngụy Văn Thà tử thương, hạm phó Thành Trí trọng thương ngay bụng. Hầu hết sĩ quan, hạ sĩ quan và thủy thủ trên đài chỉ huy đều bị tử thương và bị thương rất nặng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;HQ-4 và HQ-5 quay đầu về hướng nam. Sau đó một giờ không còn thấy HQ-5 ở đâu. HQ-5 do máy yếu và một máy bị sự cố chưa kịp khắc phục nên “rớt” lại đâu đó. Trên biển HQ-4 trở nên lẻ loi một mình. Đó cũng là lúc hải quân Trung Quốc tung xuống một lực lượng rất mạnh từ đảo Phú Lâm gần đó và từ căn cứ ở đảo Hải Nam. Trước tình hình đó, để bảo toàn lực lượng, hạm trưởng Vũ Hữu San đã vẽ một đường trực chỉ về Đà Nẵng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Lúc này tôi mới rời được đài chỉ huy. Trên đường xuống nơi nghỉ ngơi, tôi đã chứng kiến một cảnh tượng kinh khủng sau chiến trận. Hành lang dưới tàu tanh đến ngộp thở: mùi máu, mùi cồn, bông băng... Hơn 130 binh sĩ bám chặt vị trí chiến đấu giờ đều mệt lả, nằm đâu ngủ đó. Họ chỉ cầm hơi bằng mì gói, nước ngọt và lương khô. Các binh sĩ biệt hải kiệt sức nằm rải rác trên hành lang phòng ăn.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nỗi đau còn lại&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Khoảng 16g30, tôi đang trong giấc ngủ sâu vì đã mấy hôm không chợp mắt thì còi tập họp vang lên. Tất cả thủy thủ đoàn tập họp đầy đủ nghe thông báo: “Tất cả chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu, tàu được lệnh quay lại Hoàng Sa. Nếu cần sẽ ủi thẳng lên bờ đảo Hoàng Sa, chiến đấu đến cùng để giữ đảo”. Nhìn sau lái tàu, tôi biết tàu đang quay lại và hướng thẳng về Hoàng Sa. Tất cả đều bất động, không ai nói với ai một lời nào trước giờ phút cảm tử này.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tôi vào phòng hải đồ phía sau đài chỉ huy mệt lả và thiếp đi, đến khi thức dậy trời tối hẳn, trung sĩ nhất giám lộ Khiết cho biết tàu đang quay đầu về Đà Nẵng. Anh nói hạm trưởng San báo cáo thẳng với tư lệnh hải quân là HQ-4 không còn khả năng chiến đấu, lương thực cạn, cơ số đạn không còn đủ để tác chiến, các khẩu đại bác đều có trục trặc... Lệnh từ đất liền: các tàu quay về, hủy bỏ lệnh tấn công tái chiếm Hoàng Sa.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;5g30 sáng 20-1 HQ-4 về đến cảng Tiên Sa, 9g tàu HQ-5 tiến vào vịnh Đà Nẵng. Lúc 12g30, tàu HQ-16 bị thương nặng, từ từ tiến vào vịnh với sự trợ giúp của hai tàu lai dắt biển.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tối hôm đó, 20-1-1974, cũng là đêm 30 tết âm lịch, anh em chúng tôi được dự buổi liên hoan tất niên cuối năm theo truyền thống. Giữa mâm cao cỗ đầy nhưng ai nấy đều buồn bã, không thiết gì đến ăn uống. Mọi người vẫn hết sức lo lắng cho số phận đồng đội đang trôi giạt trên sóng biển giữa ngày tết thế này, lo lắng cho số phận anh em mắc kẹt lại các đảo. Ai cũng hồi tưởng trận hải chiến hôm qua và đau đớn trước một điều: dù đã cố gắng hết sức vẫn không giữ được mảnh đất thiêng liêng mà tổ tiên để lại.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trận hải chiến Hoàng Sa chỉ kéo dài hơn 30 phút, nhưng nỗi đau ấy vẫn làm quặn thắt trái tim chúng tôi dù 35 năm đã trôi qua.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;LỮ CÔNG BẢY&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Theo các nhân chứng trên tàu Nhật Tảo HQ-10 còn sống sót, khi hộ tống hạm này sắp chìm, 28 thủy thủ đã được lệnh đào thoát bằng các phao bè. Họ đã trôi giạt trong sóng gió 78 giờ liền, và sáu người đã chết trên biển vì kiệt sức hoặc bị thương quá nặng, trong đó có hạm phó Nguyễn Thành Trí. Mãi đến chiều 22-1 họ mới được tàu dầu của Hãng Shell là Kopionella mang quốc kỳ Hà Lan cứu vớt. Lúc lên tàu, thêm một thủy thủ nữa qua đời vì kiệt sức.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;B.T&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="color: #cc0000;"&gt;Việt Báo Thứ Tư, 9/16/2009, 12:00:00 AM&lt;br /&gt;Hoàng Sa Tử Chiến&lt;br /&gt;Vi Anh&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Năm 1972, ngày 07 tháng 07 năm 1972 là ngày Quân, Dân, Cán, Chính, Việt Nam Cộng Hòa toàn thắng trận An Lộc (Bình Long), sau 93 ngày đêm tử chiến với CS. Tổng Thống VNCH Nguyễn văn Thiệu quỳ trước nghĩa trang Biệt Kích Dù, ngậm ngùi cầu nguyện trước Anh Linh của 68 Chiến Sĩ Biệt Kích Dù và hàng ngàn các chiến sĩ thuộc các Quân Binh chủng đã chiến đấu cảm tử suốt 93 ngày đêm. Một cô giáo tên Pha trước đó cảm kích trước tinh thần tử chiến đã có hai câu thơ để đời: &lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="color: #cc0000;"&gt;"AN LỘC ĐỊA, SỬ GHI CHIẾN TÍCH, BIỆT KÍCH DÙ VỊ QUỐC VONG THÂN." &lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="color: #cc0000;"&gt;Năm 1974, 35 năm trước đây, ở vùng hải đảo Hoàng sa Quân Dân VNCH, đăïc biệt là Hải Quân VN, đã vì dân chiến đấu vì nước hy sinh, tử chiến với Hải Quân TC. Dù lúc bấy giờ đất nước và nhân dân VNCH bất hạnh bởi có một đồng minh bất nghĩa là chánh quyền Mỹ đã bỏ rơi VN. VN thân cô thế cô nhưng quyết một tấc đất cũng không nhường cho Trung Cộng. Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu kiêm Tổng Tư lịnh tối cao quân lực VNCH đích thân bay ra bộ tư lịnh hành quân xem xét kế hoạch và chỉ thị. Những người con yêu của Tổ Quốc VN với quân phục Hải quân VN biết ra đi khó trở về nhưng cười hiểm nguy, bất chấp nỗi gian nan ra đi quyết làm tròn nhiệm vụ với Tổ Quốc và Nhân dân VN. &lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="color: #cc0000;"&gt;Năm 2009, 35 năm sau, chính tờ báo Tuổi Trẻ của Đảng Nhà Nước CS Hà nội bây giờ cũng tỏ lòng ngưỡng phục. Với lời toà soạn giới thiệu loạt bài "Hoàng Sa - tường trình 35 năm sau", tường thuật chi tiết về sự kiện 19 tháng 1 năm 1974 - thời điểm Hải quân Trung Quốc cưỡng chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam tại biển Đông từ tay chính quyền Việt Nam Cộng Hòa, báo Tuổi Trẻ viết: "(Tuổi Trẻ)- Hơn 35 năm trước, những người con đất Việt đã nhận lệnh vượt trùng dương ra quần đảo Hoàng Sa canh giữ biển trời Tổ quốc. Họ tự hào ra đi trong tâm thế của người Việt ra canh giữ đảo biển của người Việt! Bây giờ nhắc lại, mắt họ rưng rưng, tim họ nghẹn lại khi Hoàng Sa vẫn còn trong tay nước ngoài. Từ số báo này, Tuổi Trẻ đăng tải hồi ức của những người từng canh giữ biển trời Hoàng Sa 35 năm trước. Thời gian dài trôi qua, nhưng những gì tận mắt họ chứng kiến, những gì họ trực tiếp tham gia không thể phai mờ trong tâm trí." &lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="color: #cc0000;"&gt;Cách "viết lách" này bị bộ máy kiểm duyệt của CS Hà nội phát giác nên phần thứ 3 tiếp theo, Báo Tuổi Trẻ phải đột ngột ngưng và xin lỗi bạn đọc vì "lý do ngoài ý muốn". Theo đài Á Châu Tự do năm ngoái trên blog của nhà báo Bùi Thanh trong loạt bài "Hoàng Sa - tường trình 34 năm sau" gồm ba kỳ. Kỳ cuối mà tờ Tuổi Trẻ tạm ngưng, không giới thiệu đến độc giả của mình "vì lý do ngoài ý muốn", đề cập đến" trận tử chiến" giữa Hải quân Việt Nam Cộng Hòa với Hải quân Trung Quốc để giữ Hoàng Sa.. &lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="color: #cc0000;"&gt;Trong kỳ cuối, ông Lữ Công Bảy, nhân chứng tham gia trận tử chiến để bảo vệ lãnh thổ này kể về khung cảnh trên Khu trục hạm Trần Khánh Dư sau trận tử chiến: Trên hành lang xuống nơi nghỉ ngơi, tôi đã chứng kiến một sự kinh khủng sau chiến trận. Hành lang dưới tàu tanh đến ngộp thở: mùi máu, mùi cồn, bông băng… mấy ngày liền không có thời gian thu dọn. Hơn 130 thủy thủ đoàn bám chặt vị trí chiến đấu giờ đều mệt lả, nằm đâu ngủ đó. Họ chỉ cầm hơi bằng mì gói, nước ngọt và lương thực khô. Các binh sĩ biệt hải kiệt sức nằm rải rác trên hành lang phòng ăn. Trong phòng y tế, các binh sĩ người nhái bị thương cũng nằm la liệt. Một binh sĩ bị đạn bắn thủng cằm từ trái qua phải, mặt sưng vù. Anh ngồi bất động, máu không còn chảy ra nữa, nhưng khóe miệng những vệt máu lẫn nước bọt vẫn rỉ ra. Hạ sĩ Danh nằm thoi thóp trên băng ca, ngực anh đầy bông băng nhuốm máu. Tôi rờ lên trán anh nóng hổi, hỏi anh có khỏe không? Anh mở mắt rồi gật đầu nhưng lịm dần rồi chết... &lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="color: #cc0000;"&gt;Khoảng 16 giờ 30 tôi đang trong giấc ngủ sâu vì đã mấy hôm không chợp mắt, thì còi tập họp vang lên. Tất cả thủy thủ đoàn tập họp đầy đủ nghe thông báo: "Tất cả chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu, tàu được lệnh quay lại Hoàng Sa. Nếu cần sẽ ủi thẳng lên bờ đảo Hoàng Sa, chiến đấu đến cùng để giữ đảo". &lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="color: #cc0000;"&gt;Nhìn sau lái tàu, tôi biết tàu đang quay lại và hướng thẳng về Hoàng Sa. Tất cả đều bất động, không ai nói với ai một lời nào trước giờ phút cảm tử này.Thế rồi, giữa khoảnh khắc yên lặng kỳ lạ và căng thẳng đó, một câu nói được thốt ra, tôi còn nhớ mãi: "Dù sao đánh nhau với Trung Quốc nếu có chết cũng vinh quang hơn".&lt;br /&gt;Đúng như niềm tin của những quân nhân VNCH nói trước giờ tử chiến. Đối với bất cứ một quốc gia dân tộc nào, chủ quyền quốc gia, bờ cõi đất nước, giang sơn gấm vóc của một quốc gia dân tộc là thiêng liêng. Lấy máu xương ra chiến đấu gìn giữ là một hy sinh cao cả nhứt, Tổ Quốc mãi mãi ghi ơn. Phản quốc là một đại trọng tội trời không dung đất không tha, dân phỉ nhổ. Nên việc CS Hà nội thần phục quân Tàu, nhượng đất, dâng biên, dân đảo cho CS Bắc Kinh đã làm cho Đảng Nhà Nước phân hoá. Tướng lãnh CS hưu và tại chức chống đối. Trí thức trẻ già chống đối. Trang web bauxite có hàng ngàn người có học tham gia. Báo Điện tử của Đảng Cộng Sản Việt Nam đăng bản dịch một bài báo của Trung Quốc nói về một cuộc tập trận của Trung Quốc vào tháng 8 tại khu vực Trường Sa và Hoàng Sa, bị dư luận phản ứng quyết liệt phải gở xuống. Trang web ''Hợp tác kinh tế thương mại Việt Trung'', http://www.vietnamchina.gov.vn, tức là trang web có tên miền Việt Nam, do Việt Nam quản lý, lại đăng ý kiến của phát ngôn viên Trung Quốc khẳng định Hoàng Sa và Trường Sa là của Bắc Kinh, bị chống đối nhà nước phải đóng cửa luôn. Không sử dụng được truyền thông chính thức của Đảng Nhà Nước CS, là " báo đài"ø, người Việt yêu nước dùng truyền thông dòng phụ như blog chánh trị để chống. Bắt người này, người kia đứng lên kế tục. &lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="color: #cc0000;"&gt;Rồi bài báo "Tảøn mạn với Đảo Xa" của Trung Bảo trên báo Du lịch, "Hoàng Sa - tường trình 35 năm sau" trên báo Tuổi Trẻ; báo Tuổi Trẻ và Thanh Niên, đồng loạt đăng bài ''Trung Quốc yêu sách 80% diện tích biển Đông : Không chấp nhận đường lưỡi bò'' của tác giả Quốc Pháp, là thí dụ điển hình. Thậm chí đến báo Công an nhân dân Online vào đầu tháng 8 cũng có một bài bình luận ở phụ trang An ninh thế giới, tựa đề ''Lại thêm một hành động không hữu hảo trên biển Đông' với kết luận những hành động của TQ gần đây nằm trong mưu đồ chính trị thâm hiểm, muốn biến Biển Đông thành ''ao nhà'' của TQ. &lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="color: #cc0000;"&gt;Với bộ máy kềm kẹp toàn diện và tinh vi của CS Hà nội, tự nhiên giỏi lách được qua ngỏ hẹp không bao lâu thì "ở trên" biết và ra lịnh phải gỡ xuống. Nhưng vẫn có người tìm cách lách nữa, lách hoài, lách mãi. Người dân Việt ở Bắc, ở Trung, ở Nam, ở hải ngoại, nhà báo yêu nước ở quốc nội và hải ngoại lách chừng nào Đảng cầm quyền mãi quốc cầu vinh rách nát, tan vỡ mới thôi. Để người Việt sang trang lịch sử mơí với một chánh quyền của dân, vì dân, do dân huy động được nội lực dân tộc tiếp nối con đường chống quân Tàu dài cả 1000 năm trong û 4000 năm lịch sử của quốc gia dân tộc Việt. Và nếu cần chống cả 1000 nữa cũng chống. Đời ta không thành, thì có con cháu ta, con cháu ta không thành thì có con cháu của con cháu ta. Đất nước còùn thì còn tất cả, đất nước mất thì mất tất cả. Có chết cũng phải chiến đấu để tìm sự sống trong cái chết.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;VI ANH&lt;br /&gt;_________________&lt;br /&gt;KBC Hai Ngoai&lt;br /&gt;Administrator&lt;/span&gt;&lt;/i&gt; &lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SrPs-LU7oJI/AAAAAAAAGVc/xPNnLbCjQdY/s1600-h/3.JPG"&gt;&lt;img alt="" border="0" id="BLOGGER_PHOTO_ID_5382906532574503058" src="http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SrPs-LU7oJI/AAAAAAAAGVc/xPNnLbCjQdY/s400/3.JPG" style="display: block; height: 312px; margin: 0px auto 10px; text-align: center; width: 400px;" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://2.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SrPsxwBd1hI/AAAAAAAAGVU/Mr9WOuLrkr4/s1600-h/2.JPG"&gt;&lt;img alt="" border="0" id="BLOGGER_PHOTO_ID_5382906319086671378" src="http://2.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SrPsxwBd1hI/AAAAAAAAGVU/Mr9WOuLrkr4/s400/2.JPG" style="display: block; height: 284px; margin: 0px auto 10px; text-align: center; width: 400px;" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/4274400117116119553-2119824920759697817?l=anhhungvaphanboi.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://anhhungvaphanboi.blogspot.com/feeds/2119824920759697817/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=4274400117116119553&amp;postID=2119824920759697817' title='1 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/4274400117116119553/posts/default/2119824920759697817'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/4274400117116119553/posts/default/2119824920759697817'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://anhhungvaphanboi.blogspot.com/2009/09/nguy-van-tha.html' title='Ngụy Văn Thà'/><author><name>Nha Kỹ Thuật</name><uri>http://www.blogger.com/profile/00058869536112748808</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='26' height='32' src='http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SKrYhjfyioI/AAAAAAAAC0w/Z-Pv_vtrYCM/S220/phamhoasize07.jpg'/></author><media:thumbnail xmlns:media='http://search.yahoo.com/mrss/' url='http://2.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SrD1je46L2I/AAAAAAAAGUM/aLAR3Oy_LrI/s72-c/70650-big_VN-NguyVanTha-K12-HQ.jpg' height='72' width='72'/><thr:total>1</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-4274400117116119553.post-3840934625369845461</id><published>2009-08-26T07:32:00.000-07:00</published><updated>2009-08-26T09:20:31.586-07:00</updated><title type='text'>Dương Văn Minh</title><content type='html'>&lt;div align="left"&gt;&lt;a href="http://2.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SpVeWvNsXSI/AAAAAAAAGOA/mzIsZhw4wgg/s1600-h/0_TUONG_DUONG_VAN_MINH_1963_jpg.jpg"&gt;&lt;img id="BLOGGER_PHOTO_ID_5374305475060587810" style="DISPLAY: block; MARGIN: 0px auto 10px; WIDTH: 239px; CURSOR: hand; HEIGHT: 299px; TEXT-ALIGN: center" alt="" src="http://2.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SpVeWvNsXSI/AAAAAAAAGOA/mzIsZhw4wgg/s400/0_TUONG_DUONG_VAN_MINH_1963_jpg.jpg" border="0" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;strong&gt;&lt;span style="font-size:130%;color:#000066;"&gt;"Trăm năm bia đá thì mòn&lt;/span&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="left"&gt;&lt;strong&gt;&lt;span style="font-size:130%;color:#000066;"&gt;Ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ"&lt;/span&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="left"&gt; &lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;span style="color:#cc0000;"&gt;Hàng Tướng Dương Văn Minh&lt;/span&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;Lữ Giang&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong các tướng lãnh tham gia chính trường tại miền Nam Việt Nam, có lẽ tướng có thân phận bi thảm nhất là Tướng Dương Văn Minh. Biết Dương Văn Minh không hiểu biết gì về chính và thủ đoạn chính trị, thường suy nghĩ và hành động theo cảm tính, lại mắc bệnh tham lam, nên Hoa Kỳ đã biến ông thành một một công cụ đầy oan nghiệt để thực hiện chính sách của Hoa Kỳ trong từng giai đoạn rồi loại bỏ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Có thể coi cuộc đời và vai trò của Tướng Dương Văn Minh như là một chương bi thảm trong lịch sử VNCH và cũng là một chương bi thảm trong tương quan giữa VNCH và Hoa Kỳ.&lt;br /&gt;Người Việt ai cũng thuộc câu “Tri bỉ tri kỷ bách chiến bách thắng”, nhưng mặc đầu đã chiến đấu với Mỹ trong 20 năm và đã ở trên đất Mỹ 34 năm, đa số người Việt chống Cộng không biết Mỹ và địch đang làm gì, cứ suy nghĩ và hành động theo cảm tính, nên đấu tranh đã 34 năm mà vẫn chưa thấy ánh sáng ở cuối đường hầm. Vì thế, hôm nay nhân kỷ niệm ngày mất nước, chúng tôi xin trình bày tóm lược về một số bí ẩn và tai tiếng chung quanh cuộc đời và vai trò của Tướng Dương Văn Minh với ước mong mọi người có thể nhìn vào đó tìm ra bài học lịch sử khi tiếp tục đấu tranh.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;span style="color:#cc0000;"&gt;VỤ BIỂN THỦ MỘT THÙNG PHUY VÀNG &lt;/span&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;span style="color:#cc0000;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/strong&gt;Trong cuốn “Việt Nam một trời tâm sự”, Tướng Nguyễn Chánh Thi có kể lại:&lt;br /&gt;Sáng ngày thứ 4, một toán thuyền và độ vài trăm người có súng đi ra với nhiều lá cờ trắng xin đầu hàng. Tiếp theo là một chiếc tàu chở ông Hồ Hữu Tường và ông Trần Văn Ân, cố vấn của Lê Văn Viễn ra điều đình. Tướng Thi kể tiếp:&lt;br /&gt;“Trong toán này có Thiếu Tá Tư Nhỏ trước kia ở Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa đào ngũ theo Bình Xuyên vì y là con rễ của Bảy Viễn.&lt;br /&gt;“Tư Nhỏ ra đầu hàng và tình nguyện đi chỉ chỗ vàng bạc chôn giấu của Bảy Viễn. Hắn ta nói:&lt;br /&gt;“- Trước đây một toán Bình Xuyên 8 người cùng chiếc du thuyền của Bảy Viễn chở 6 thùng 200 lít đựng bạc và một thùng đựng vàng, hột xoàn đem đi chôn giấu. Khi chôn xong rồi thì 8 người ấy đều bị giết ngay và lấp xuống ở gần đó.&lt;br /&gt;“Khi tình hình ở đây được hoàn toàn yên ổn, tôi được quan sát tận mắt sự đào hầm giấu tiền và các bộ mặt căng thẳng của Bộ Tư Lệnh của Đại Tá Dương Văn Minh và Trung Tá Nguyễn Khánh mà đâm ra hoài nghi.&lt;br /&gt;“Trung Tá Nguyễn Khánh lúc đó chơi trò “cao bồi”, hai tay cầm hai khẩu súng lục, miệng nói: Cấm không ai được đến gần đây cả!&lt;br /&gt;“Tiền!” Thật là khó coi? Chán mắt!&lt;br /&gt;“Tôi lạnh lùng cho chiếc tàu của tôi trở về vị trí đóng quân, trong lòng tôi suy nghĩ miên man về thái độ cử chỉ của bọn họ. Tin ít mà ngờ nhiều.” [1]&lt;br /&gt;Câu chuyện về tài sản của Bình Xuyên được Tướng Thi kể lại có nhiều điểm khác với câu chuyện do Đại Tá Nguyễn Văn Y, cựu Tổng Giám Đốc Công An Cảnh Sát Quốc Gia, tường thuật lại dưới đây. Vì thế, một câu hỏi đã được đặt ra: Phải chăng đây là hai số tiền và vàng khác nhau? Chúng tôi tin rằng hai số tiền và vàng này chỉ là một, nhưng Tướng Thi chỉ được nghe nói hay nhìn thoáng qua nên không biết chính xác, còn Đại Tá Y là người đứng ra chỉ huy việc truy tìm số tài sản này nên câu chuyện được ông kể lại đầy đủ và chính xác hơn. Về sau, ông Diệm cũng chỉ ra lệnh điều tra về số tiền và vàng mà Đại Tá Y đã tìm được, chứ không nói gì đến số tiền và vàng mà Tướng Thi đã kể.&lt;br /&gt;Đại Tá Nguyễn Văn Y, cựu Tổng Giám Đốc Cảnh Sát Quốc Gia kiêm Đặc Ủy Trưởng Phủ Đặc Ủy Trưởng Trung Ương Tình Báo của VNCH đã tường thuật như sau:&lt;br /&gt;Lúc đó ông là Tỉnh Trưởng kiêm Tiểu Khu Trưởng Chợ Lớn, chỉ huy Tiểu Đoàn 184. Vào khoảng tháng 5 năm 1955, sau khi đánh đuổi quân Bình Xuyên chạy vào Rừng Sát, ông đã thả các nhân viên Phòng 2 đi thăm dò ven rừng. Các nhân viên này thấy một người đang ngồi câu cá trên một chiếc xuồng ở một khu vắng, dáng điệu rất khả nghi, nên bắt về thẩm vấn. Sau nhiều cuộc tra hỏi, người này thú nhận anh ta là một cận vệ của Bảy Viễn, được phái ở lại giữ hai thùng phuy vàng và bạc đã phải nhận chìm xuống nước trước khi chạy trốn. Ông đã cho thợ lặn xuống tìm nhưng không thấy. Nhân viên Phòng 2 tiếp tục phỏng vấn, người này quả quyết nơi anh ta làm dấu đúng là nơi đã nhận 2 thùng phuy xuống. Thấy thái độ quả quyết của anh này, ông cho thợ lặn xuống mò một lần nữa, nhưng trong một phạm vi rộng hơn. Quả nhiên, thợ lặn đã vớt được hai thùng này cách xa nơi đánh dấu khoảng 100 thước, vì bị nước cuốn trôi đi. Đây là thứ thùng phuy đựng dầu xăng loại 200 lít.&lt;br /&gt;Công cuộc kiểm tra cho thấy một thùng đựng bạc giấy, còn một thùng đựng vàng. Bạc giấy toàn là loại 500$, được gói trong những bao nilon nhỏ, có nhiều bao bị nước thấm nước. Ông bảo nhân viên đem số bạc ướt phơi khô rồi đưa tất cả đi nạp vào ngân khố. Còn thùng vàng được chở đến giao cho Đại Tá Dương Văn Minh, Quân Trấn Trưởng Sài Gòn. Tướng Nguyễn Khánh, lúc đó là Trung Tá Chỉ Huy Phó của Đại Tá Minh, cho biết số vàng này khi giao nạp đã được bỏ vào trong hai cái rương, nhưng rồi sau đó không còn nghe Dương Văn Minh nói gì về số vàng này.&lt;br /&gt;Ông Diệm đã ra lệnh cho Thẩm Phán Lâm Lễ Trinh, Biện Lý Tòa Sơ Thẩm Sài Gòn, và Thiếu Tá Mai Hữu Xuân, Giám Đốc An Ninh Quân Đội, mở cuộc điều tra vụ này.&lt;br /&gt;Ông Huỳnh Văn Lang, lúc đó là Bí Thư Liên Kỳ của Đảng Cần Lao và Tổng Giám Đốc Viện Hối Đoái, cho biết ông Lâm Lễ Trinh đã tiết lộ rằng khi được hỏi về số vàng này, Tướng Minh đã sừng sộ và giận dữ, nói rằng ông Diệm là người bội bạc, ông đã giúp ông Diệm đánh dẹp Bình Xuyên mà còn hỏi cái gì.&lt;br /&gt;Ông Lang cũng cho biết ông có được đọc bản báo cáo hai trang của Đại Tá Mai Hữu Xuân. Đại Tá Xuân chỉ xác nhận số vàng Tiểu Khu Chợ Lớn tịch thu được đã giao cho Đại Tá Dương Văn Minh cất giữ và đề nghị nên đem ra chia nhau! [2]&lt;br /&gt;Ông Cao Xuân Vỹ cho biết khi ông Nguyễn Ngọc Thơ đề nghị cho Tướng Dương Văn Minh chỉ huy Chiến Địch Đinh Tiên Hoàng để bắt Ba Cụt, ông Diệm đã nói với ông Nhu: “Thôi, cho nó số vàng đó đi cho yên!”&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;span style="color:#990000;"&gt;CHỨA CHẤP GIÁN ĐIỆP VIỆT CỘNG&lt;/span&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Anh Nguyễn Tư Thái, tự là Thái Đen, Phụ Tá Trưởng Đoàn Công Tác Đặc Biệt, cho biết vào đầu năm 1960, nhân viên của Đoàn thấy một người thường lui tới nhà Dương Văn Minh, ở số 3 đường Trần Quý Cáp, Sài Gòn, nhưng mỗi lần đi ra, anh ta thường nhìn trước nhìn sau rất kỹ, thấy không có gì khả nghi mới bước ra. Những người bình thường không ai làm như vậy. Một hôm, đợi anh ta ra khỏi nhà Dương Văn Minh một khoảng xa, nhân viên tình báo liền bắt đẩy anh ta lên xe và đem về thẩm vấn. Lúc đầu anh ta nói anh ta chỉ là người đến dạy học cho các con của Tướng Minh. Tuy nhiên, sau nhiều cuộc thẩm vấn khéo léo, anh ta nhìn nhận anh ta là một ủy viên của Huyện Ủy Thủ Đức, được phái đến gặp Dương Văn Minh để lấy tin tức. Anh này đã bị giam giữ luôn, nhưng Dương Văn Minh không hay biết gì cả.&lt;br /&gt;Sau vụ này, Đoàn Công Tác Đặc Biệt và Tổng Nha Cảnh Sát đã bố trí thường trực chung quanh nhà Dương Văn Minh, theo dõi từng bước đi của những người ra vào nhà ông, quay phim và chụp hình. Điện thoại của nhà ông cũng bị nghe lén.&lt;br /&gt;Khoảng tháng 3 năm 1960, có một người có mặt mày và hình dáng rất gióng Dương Văn Minh, đã đến ở luôn trong nhà Dương Văn Minh và mỗi lần đi đâu thường được chính Dương Văn Minh chở đi. Sưu tra hồ sơ, nhân viên tình báo biết ngay đó là Dương Văn Nhựt, em của Dương Văn Minh, có bí danh là Mười Tỵ, hiện đang là Thiếu Tá trong bộ đội miền Bắc. Vợ của Dương Văn Nhựt hiện đang sống tại Sài Gòn. Theo dõi sát, nhân viên tình báo biết được Dương Văn Nhựt đang đi vận động Phật Giáo và sinh viên chống ông Diệm.&lt;br /&gt;Trong cuộc phỏng vấn ngày 16.10.2004, Đại Tá Nguyễn Văn Y cho biết khi vợ Dương Văn Nhựt có bầu gần sinh, Dương Văn Nhựt đã đưa vợ tới ở nhà của Trung Tá Dương Văn Sơn, em của Dương Văn Minh. Lúc đó Dương Văn Sơn đang làm trưởng phòng truyền tin của Biệt Khu Thủ Đô. Tướng Minh thường đến nhà Dương Văn Sơn nói chuyện với Dương Văn Nhựt. Vì thế, nhà Dương Văn Sơn cũng bị theo dõi như nhà Dương Văn Minh.&lt;br /&gt;Một hôm, Tổng Thống Diệm gọi ông và bảo đem tất cả hồ sơ vụ Dương Văn Minh vào gặp ông. Có lẽ trước đó Đoàn Công Tác Đặc Biệt đã trình nội vụ cho Tổng Thống biết rồi.&lt;br /&gt;Khi ông đem hồ sơ vào, Tổng Thống Diệm hỏi: “Dương Văn Minh có theo Cộng Sản không?” Rồi ông nói tiếp: “Võ Nguyên Giáp nhiều công trạng như rứa mà nay Cộng Sản chỉ mới cho lên Trung Tướng. Dương Văn Minh công trạng có bao nhiêu đâu mà nay đã lên Trung Tướng rồi, còn muốn gì nữa?”&lt;br /&gt;Đại Tá Y nói ông vốn là đàn em và là người quen biết với Tướng Minh nên chưa biết phải trả lời như thế nào. Tổng Thống liền đưa cho ông cái hộp quẹt và bảo đem tất cả hồ sơ ra đốt đi. Tổng Thống nói: “Mỹ mà nó biết được Trung Tướng của mình theo Việt Cộng thì xầu hổ lắm. Đốt hết đi! Từ rày tôi không muốn nhắc tới cái vụ này nữa.”&lt;br /&gt;Nhưng đốt hồ sơ rồi cũng chưa xong, nhân viên tình báo còn phải bắt Dương Văn Nhựt và dẫn ông ta ra chiến khu để ông ta đi qua Cambodia và trở về lại miền Bắc, với lời cảnh cáo: “Nếu trở lại sẽ bị thanh toán”. Câu chuyện này có lẽ Tổng Cục Phản Gián của Hà Nội không hề hay biết.&lt;br /&gt;Sau đó, ông Diệm đã bảo Đại Tướng Lê Văn Tÿ, Tổng Tham Mưu Trưởng, thông báo cho Tướng Minh biết từ nay ông ta chỉ có thể xử dụng các đơn vị cấp đại đội trở xuống mà thôi. Tướng Minh biết lý do tại sao, nhưng các cố vấn Mỹ không biết chuyện gì đã xẩy ra, nên rất thắc mắc. Họ nghĩ rằng ông Diệm sợ Tướng Minh làm đảo chánh nên mới hạn chế như vậy. Ngày 18.7.1962, ông Diệm thông báo cho Tướng Harkins biết ông quyết định hủy bỏ chức Tư lệnh Bộ Tư lệnh Hành quân của Tướng Minh vì ông ta “thiếu khả năng.” Ngày 8.12.1962 Trung Tướng Dương Văn Minh được cử làm Cố Vấn Quân Sự Phủ Tổng Thống, một chức vụ được coi như “ngồi chơi xơi nước”.&lt;br /&gt;Sau này, báo Tuổi Trẻ Chúa Nhật của Việt Cộng trong số ra ngày 1.9.1996, dưới đầu đề “Tướng Dương Văn Minh dưới mắt các nhà binh địch vận”, đã tường thuật lại mối quan hệ giữa Tướng Dương Văn Minh và người em là Dương Văn Nhựt như sau:&lt;br /&gt;“Năm 1960, Mười Tỵ, thiếu tá thuộc Bộ Tổng Tham Mưu Quân Đội Nhân Dân Việt Nam - được lệnh về Nam nhận công tác đặc biệt. Nhiệm vụ của ông là quan hệ, tranh thủ người anh ở bên kia chiến tuyến, đại Tướng Dương Văn Minh. Sau khi vượt Trường Sơn vào Nam, Thiếu Tá Dương Văn Nhựt, tức Mười Tỵ, đã được Ban Binh Vận Trung Ương Cục tìm mọi cách đưa vào Sài Gòn. Thông qua một người em gái, ông Mười Tỵ đã đến được và ở lại nhà của Dương Văn Minh suốt một tuần lễ. Hai anh em ở hai phía chiến trận gặp gỡ hàn huyên. Bằng tình cảm gia đình, ông Mười Tỵ thuyết phục Tướng Minh. Từ đó, ông Mười Tỵ cứ phải đi về trong “vùng địch” hoặc ra nước ngoài để tiếp xúc và gặp gỡ anh mình. Khi Dương Văn Minh lưu vong ở Thái Lan, ông Mười Tỵ cũng được bố trí sang Thái Lan qua ngã Campuchia. Ông đến Nam Vang, sống trong nhà một Hoa kiều. Tại đó, trong vòng một tháng, ông vừa học bằng sách vở, vừa thực tập giao tiếp để nói tiếng Hoa hồng để nhập vai người đi buôn. Có khi từ Nam Vang ông phải bay lòng vòng sang Ý, rồi từ Ý được cơ sở Việt kiều đón về Pháp để móc nối chị dâu (vợ của Tướng Minh) từ Thái Lan qua liên lạc”.&lt;br /&gt;Bài báo viết thêm:&lt;br /&gt;“Kể từ 1972, bộ đội bắt đầu mở nhiều trận đánh lớn, nên Mười Tỵ được lệnh không ra vùng địch và ra nước ngoài nữa vì “sợ rủi ro làm hỏng ý đồ chiến lược”, nên việc móc nối với Dương Văn Minh được giao cho Nguyễn Hữu Hạnh.”&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;span style="color:#cc0000;"&gt;BỊ BIẾN THÀNH TÊN ĐAO PHỦ CỦA MỸ&lt;/span&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vì không hiểu gì về thủ đoạn chính trị, Dương Văn Minh đã bị Hoa Kỳ biến thành tên đao phủ thanh toán Tổng Thống Ngô Đình Diệm, ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu và ông Ngô Đình Cẩn rồi sau đó loại bỏ.&lt;br /&gt;1.- Giết Tổng Thống Ngô Đình Diệm và ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu&lt;br /&gt;Biết Tướng Dương Văn Minh đang bất mãn với ông Diệm nên CIA thuyết phục ông ta làm đảo chánh lật đổ ông Diệm. Dương Văn Minh đồng ý ngay. Trên danh nghĩa, ông ta là người chỉ huy cuộc đảo chánh, nhưng bên trong CIA chỉ giao cho ông ta một nhiệm vụ duy nhất là thanh toán nhà Ngô. Còn việc lập kế hoạch và chỉ huy cuộc đảo chánh được trao cho Tướng Trần Thiện Khiêm.&lt;br /&gt;Khi tiến hành cuộc đảo chánh, Tướng Dương Văn Minh đã ra lệnh hạ sát Đại Tá Hồ Tấn Quyền, Tư Lệnh Hải Quân; Đại Tá Lê Quang Tung, Tư Lệnh Lực Lượng Đặc Biệt, và Thiếu Tá Lê Quang Triệu, Tham Mưu Trưởng Lực Lượng Đặc Biệt.&lt;br /&gt;Khi được ông Diệm báo tin đang ở nhà thờ cha Tam, Dương Văn Minh đã cho lập “toán hành quyết” đi đón và giết ông Diệm và ông Nhu. Toán này do Đại Tá Mai Hữu Xuân cầm đầu. Tướng Minh cho Đại Úy Nguyễn Văn Nhung, cận vệ của mình, đi theo làm sát thủ.&lt;br /&gt;Khi xác ông Diệm đưa về Tổng Tham Mưu, một quân cảnh cho biết chính mắt ông ta thấy Tướng Dương Văn Minh đã xuống lột quần ông Diệm ra xem có “chim” hay không.&lt;br /&gt;Tướng Trần Văn Đôn cho biết khi hay tin hai ông đã chết, ông rất xúc động và đến hỏi Dương Văn Minh:&lt;br /&gt;- Tại sao hai ông ấy chết?&lt;br /&gt;Ông Minh có vẽ khó chịu, trả lời bằng tiếng Pháp: Ils sont morts! Ils sont morts! (Mấy ông ấy chết rồi, thì chết rồi) [3]&lt;br /&gt;2.- Giết ông Ngô Đình Cẩn&lt;br /&gt;Chính Tướng Nguyễn Khánh đã cho soạn thảo và ban hành Sắc Luật số 4/64 ngày 28.2.1964 thiết lập Toà Án Quân Sự đưa ra những quy định trái với nguyên tắc bất hồi tố của hình luật, và cử nhóm tay chân bộ hạ vào làm “phán quan” để tuyên án tử hình ông Cẩn. Sắc Luật lại quy định rằng các bị cáo không có quyền kháng cáo hay thượng tố. Bị cáo bị án tử hình có thể đệ đơn xin ân xá lên Quốc Trưởng trong thời hạn 24 tiếng đồng hồ. Trong trường hợp phạm nhân bị xử tử hình đã đệ đơn ân xá, án tử hình sẽ thi hành trong hạn 5 ngày kể từ khi tuyên án, nếu trong hạn đó, đơn xin ân xá không được chấp thuận. Những sự quy định này nhắm gài Tướng Dương Văn Minh, lúc đó đang là Quốc Trưởng bù nhìn, vào cái thế phải chịu trách nhiệm giết ông Cẩn.&lt;br /&gt;Mặc dầu đứng đàng sau Tướng Khánh trong vụ làm luật giết ông Cẩn và biết chắc ông Cẩn phải bị giết, Đại Sứ Cabot Lodge giả vờ đứng ra làm con thoi, đề nghị Tướng Minh ân xá cho ông Cẩn. Tướng Minh biết mình bị gài nên nói với Đại Sứ Lodge: “Khánh luôn luôm tìm cách đặt tôi vào tình trạng khó khăn (He always tries to put me in the difficult position). Tôi sẽ bị cả nước thù ghét và tố cáo nếu tôi ân xá Cẩn.” Đại Sứ Lodge nhận xét: “Rõ ràng là Khánh đang sắp xếp các sự việc để cho Minh gánh lấy tất cả trách nhiệm nếu không hành quyết Cẩn.”&lt;br /&gt;Hôm 5.5.1964 Tướng Dương Văn Minh đã ký quyết định bác đơn xin ân xá của ông Cẩn và trở thành tên sát thủ ông Cẩn!&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="color:#cc0000;"&gt;&lt;strong&gt;BỊ ĐƯA RA LÀM HÀNG TƯỚNG&lt;/strong&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vào tháng 4 năm 1975, Hoa Kỳ thấy tình hình miền Nam Việt Nam không còn cứu vãn được, nên đã sắp xếp cho miền Nam đầu hàng Bắc Việt để tránh sự đổ máu quá nhiều. Biết Tướng Dương Văn Minh có liên lạc với Việt Cộng, Đại Sứ Martin của Mỹ đã phối hợp với Đại Sứ Merillon của Pháp thuyết phục Tướng Thiệu từ chức và lừa Tướng Dương Văn Minh ra làm hàng tướng bằng cách tạo cho ông một ảo vọng rằng chỉ có ông mới có thể nói chuyện với “phía bên kia” để hình thành một “chính phủ liên hiệp Quốc – Cộng!”&lt;br /&gt;Trong cuốn Decent Interval, Frank Snepp, một phân tích viên của CIA ở Saigon lúc đó, nói rằng tại miền Nam lúc đó, không ai tin Hà Nội có thể chấp nhận một giải pháp khi họ đang trên đà chiến thắng. Ông Vũ Văn Mẫu cũng đã nhận ra được điều đó nên khi gặp Đại Sứ Merillon, ông đã nói với ông Đại Sứ bằng tiếng Latin rằng nếu giải pháp một chính phủ liên hiệp không thành thì xin giúp ông được ra đi.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Frank Snepp cho biết thêm:&lt;br /&gt;“Khi tôi đang bận đánh máy bản báo cáo thì Polgar ở trong phòng riêng với các viên chức khác của Trạm Tình Báo (Toà Đại Sứ) thảo luận về việc chuyển giao nhanh quyền hành. Một khi Thiệu từ chức, Phó Tổng Thống Trần Văn Hương phải trao quyền hành ngay lập tức cho Minh “Lớn”, và Quốc Hội phải sẵn sàng chấp thuận sự chuyển giao, để sự chuyển giao đó có thể được thực hiện “một cách hợp hiến” (nhấn mạnh của Đại Sứ Martin) và “nhanh chóng”. [4]&lt;br /&gt;Sau khi ép buộc Tướng Nguyễn Văn Thiệu từ chức Tổng Thống, Mỹ thúc đẩy Phó Tổng Thống Trần Văn Hương trao quyền lại cho Tướng Dương Văn Minh để đầu hàng Việt Cộng, nhưng ông Trần Văn Hương không hiểu gì về tình hình lúc đó nên tìm cách cù cưa. Ông bí mật đến gặp Tướng Minh và yêu cầu Tướng Minh làm Thủ Tướng, nhưng Tướng Minh từ chối. Tuy nhiên, do sự thúc đẩy của CIA và một số nhân vật chính trị, cuối cùng ông cũng đồng ý trao quyền cho Tướng Minh với điều kiện phải có sự quyết định của Quốc Hội.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngày 26.4.1975 lưỡng viện Quốc Hội đã họp tại Thượng Viện dưới quyền chủ toạ của ông Trần Văn Lắm, Chủ Tịch Thượng Viện, để đưa Tướng Dương Văn Minh lên làm Tổng Thống. Có 136 trong số 219 nghị sĩ và dân biểu đến họp. Sau khi Đại Tướng Cao Văn Viên, Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Lực VNCH, và Tướng Nguyễn Khắc Bình, Tổng Giám Đốc CSQG trình bày về tình hình, Quốc Hội bắt đầu thảo luận về việc trao quyền cho Tướng Dương Văn Minh. Có rất nhiều sự bất đồng về việc trao quyền, nhiều người cho rằng sự trao quyền này là bất hợp hiến. Nhưng các nhóm vận động hậu trường đã hoạt động rất ráo riết nên cuối cùng, lúc 20 giờ 54 phút, Quốc Hội đã biểu quyết chấp thuận trao quyền cho Tướng Dương Văn Minh với số phiếu 147/151.&lt;br /&gt;Chiều 28.4.1975, Tướng Dương Văn Minh đã nhận chức Tổng Thống. Lễ bàn giao được diễn ra tại Phòng Khánh Tiết của Dinh Độc Lập.&lt;br /&gt;Cũng trong chiều 28.4.1975, Đô Đốc Chung Tấn Cang, Tư Lệnh Hải Quân, vào Dinh Hoa Lan gặp Tướng Minh cho biết tình hình và hỏi Tướng Minh có định ra đi không. Tướng Minh cho con gái là Dương Mai, con rễ là Đại Tá Nguyễn Hồng Đài và hai cháu ngoại lên tàu di tản với Đô Đốc Cang, còn ông và bà Minh ở lại.&lt;br /&gt;Đêm 29.4.1975, Tướng Minh vào ngũ trong Dinh Độc Lập để tránh pháo kích. Lúc đó, ông chỉ còn hy vọng Thượng Tọa Thích Trí Quang, người hứa sẽ đưa người “phía bên kia” đến thương lượng để thành lập chính phủ liên hiệp. Tướng Nguyễn Hữu Có kể lại lúc 4 giờ 35 sáng ngày 30.4.1975, Thích Trí Quang đã nói với Dương Văn Minh qua điện thoại:&lt;br /&gt;“Thưa Tổng Thống, cũng như Tổng Thống là tôi vẫn chờ đến giờ nầy và theo tôi nghĩ có lẽ với tình thề hiện tại, trong sứ mạng của tôi, người đứng trung gian bắc nhịp cầu của thế cờ chính trị, có thể nói là chấm dứt. Với trọng trách là Tổng Thống, hơn nữa là một Đại Tướng, tôi nghĩ công việc phải nhờ vào tài quân sự của Đại Tướng, chứ giải pháp chính trị của tôi coi như chấm dứt, và từ giờ phút này nếu có chuyện gì xẩy đến thì mọi trách nhiệm đều do Tổng Thống, à quên Đại Tướng quyết định với giải pháp quân sự, mà trong lãnh vực này Đại Tướng rất rành và giỏi hơn tôi. Xin chào Tổng Thống...”&lt;br /&gt;Dương Văn Minh chỉ trả lời gọn một câu: “Thầy giết tôi rồi!” và cúp máy điện thoại.&lt;br /&gt;Lúc đó là 4 giờ 45 phút sáng.&lt;br /&gt;Frank Snepp kể lại, sau đó Tướng Minh đi đi lại lại một cách bực dọc (nervously) trong dinh Độc Lập trống vắng. Đoàn sứ giả đi thương lượng ở Tân Sơn Nhứt không thấy về. Có người khuyên ông nên tuyên bố đầu hàng vô điều kiện, nhưng ông không đồng ý. Ông nói rất nhiều đồng bào của ông sẽ khinh ông. (Too many of his countrymen would think ill of him). Ông muốn hoản lại chuyện này cho đến khi nội các được thành lập. Khi đó ít ra những người khác phải chia xẻ sự sỉ nhục.[5]&lt;br /&gt;Lúc 8 giờ 30, ông đến Phủ Thủ Tướng thảo luận lại thành phần chính phủ của Vũ Văn Mẫu rồi quay về dinh Độc Lập làm lễ ra mắt.&lt;br /&gt;Lúc 10 giờ 15 sáng ngày 30.4.1975, khi thấy không còn gì để hy vọng nữa, Dương Văn Minh lên tiếng trên đài phát thanh Sài Gòn kêu gọi quân nhân, cảnh sát và các lực lượng bán quân sự “giữ vị trí, buông súng để bàn giao chính quyền trong vòng trật tự”. Lúc 11 giờ 30, chiếc xe tăng Cộng Sản đầu tiên loại T-54 tiến trên đại lộ Thống Nhứt về phía Dinh Độc Lập, ủi sập cổng, sau khi bắn hai phát đại bác long trời lở đất. Tiếng chân chạy ồn ào trong đại sảnh, có tiếng đạn lên nòng, một khẩu lệnh vang lên: “Mọi người đi ra khỏi phòng ngay!” Dương Văn Minh là người bước ra đầu tiên, Thiếu Tá tùy viên Hoa Hải Đường đi bên cạnh, phía sau là Vũ Văn Mẫu, Nguyễn Văn Huyền... Nhiều bộ đội ở đầu kia đại sảnh hét to: “Mọi người giơ hai tay lên!”. Dương Văn Minh, Vũ Văn Mẫu và đoàn tùy tùng nhất loạt tuân lệnh.&lt;br /&gt;Hai ông Minh và ông Mẫu được đưa đến đài phát thanh Sài Gòn để đọc lời đầu hàng. Nhưng khi hai ông vào bên trong đài phát thanh thì không còn nhân viên kỹ thuật nào ở đó để làm công việc thu băng. Sinh viên Nguyễn Hữu Thái phải mất hai tiếng mới tìm ra nhân viên kỹ thuật. Bản tuyên bố đầu hàng do chính trị viên Bùi Văn Tùng thảo, ông Minh đọc và đài phát thanh phát đi vào lúc 13 giờ 30.&lt;br /&gt;Tính lại, Dương Văn Minh đã làm Tổng Thống không tới 40 tiếng đồng hồ: Nhận chức vào chiều 28 tại Dinh Độc Lập đến trưa 30.4.1975 đã tuyên bố đầu hàng!&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;span style="color:#cc0000;"&gt;NHÌN LẠI CON NGƯỜI CỦA DƯƠNG VĂN MINH&lt;/span&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tướng Nguyễn Chánh Thi tiết lộ rằng khi còn ở Pháp, Tướng Dương Văn Minh có gởi cho ông một lá thư đề ngày 15.4.1987, trong đó có đoạn như sau:&lt;br /&gt;"Thi,&lt;br /&gt;“Được tin Thi tôi rất mừng. Lúc nào tôi cũng nhớ anh em thuở xưa, mà tôi còn lưu lại rất nhiều kỷ niệm.&lt;br /&gt;“Từ khi tôi đến nước Pháp tới nay, lật bật đã gần sáu năm rồi, sống với một cuộc đời réfugié tuy có thong thả nhưng lúc nào cũng bận tâm. Thoát được chế độ Cộng sản với hai bàn tay không - Pháp chẳng giúp đỡ gì - mình sống ẩn thân trong một đô thị thật nhỏ, kể ra cũng tạm yên.&lt;br /&gt;“Nghe Thi kể chuyện các anh em quân nhân, tôi rất khổ tâm. Lúc đó tôi bị đày ở Bangkok cho nên có nhiều việc tôi không được rõ hết.&lt;br /&gt;“Anh em có đọc sách của anh Đỗ Mậu kể chuyện lại cho tôi nghe; tôi phải công nhận anh Đỗ Mậu kể chuyện như vậy là rất can đảm. Lên án Cần-lao và Công-giáo đến mức đó là cùng. Ngoài ra, anh Đỗ Mậu có trách tôi không biết tự tử như các bực tiền bối, cũng có phần đúng. Nhưng đây chỉ là một vấn đề quan niệm mà thôi.&lt;br /&gt;“Theo tôi, tự tử không phải lúc nào cũng là đúng. Đôi khi mình phải dám sống để hứng nhận những hậu quả cho sự quyết định của mình gây ra...”&lt;br /&gt;Thân phận của Tướng Minh đã bị Hoa Kỳ biến thành một cái mền rách, nhưng vì quá yếu kém về chính trị, nên cho đến khi gần tới giờ về cỏi âm, ông vẫn chưa nhận ra được! Lãnh đạo mà như thế, mất miền Nam là chuyện không có gì đáng ngạc nhiên.&lt;br /&gt;Nhìn lại con người của Dương Văn Minh, chúng ta thấy có 3 đặc điểm sau đây:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Thứ nhất là tham nhũng và thiếu trách nhiệm:&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;(1) Biển thủ một thùng phuy vàng lấy được của Bình Xuyên và một số tiền bạc thu được sau cuộc đảo chánh 1.11.1963. Cho một tay chân bộ hạ nổi tiếng tham những là Tướng Mai Hữu Xuân kiêm ba chức quan trọng cùng một lúc để truy lùng tài sản và khảo của các viên chức chế độ cũ, đó là Tổng Giám Đốc Cảnh Sát Quốc Gia, Đặc Ủy Trưởng Phủ Đặc Ủy Trung Ương Tình Báo và Đô Trưởng Sài Gòn. Tướng Xuân đã nhận cả tiền của Việt Cộng để thả các cán bộ cao cấp của Việt Cộng ra.&lt;br /&gt;(2) Không quan tâm đến tình hình miền Nam sau cuộc đảo chánh và có quyết định sai lầm: Ra lệnh phá hủy các ấp chiến lược đã được thiết lập để đối phó với Cộng Sản, đưa miền Nam tới bờ vực thẳm khiến Hoa Kỳ phải thực hiện “Pentagon’s coup” để lật đổ và đưa quân vào miền Nam cứu vãn tình thế.&lt;br /&gt;Thứ hai là ngố:&lt;br /&gt;Mặc dầu làm việc với Hoa Kỳ và hành động theo sự xúi biểu của Hoa Kỳ, ông không hiểu gì về chính sách và thủ đoạn của Hoa Kỳ trong từng giai đoạn, nên đã bị Hoa Kỳ biến thành công cụ:&lt;br /&gt;(1) Ông bị biến thành một tên sát thủ giết Tổng Thống Ngô Đình Diệm, ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu và ông Ngô Đình Cẩn thay cho người Mỹ khi Hoa Kỳ muốn thay đổi chính sách. Nhưng chỉ một thời gian ngắn sau đó ông bị Hoa Kỳ loại và đưa những tay chân bộ hạ của CIA lên cầm quyền.&lt;br /&gt;(2) Khi Miền Nam sắp sụp đổ, ông bị Hoa Kỳ lường gạt bằng chiêu bài “hoà giải hoà hợp” để đưa ông ra làm Hàng Tướng!&lt;br /&gt;Thứ ba là hèn:&lt;br /&gt;(1) Thiếu Tá Nguyễn Văn Nhung, cận vệ thân tín của ông, được ông phái đi giết Đại Tá Lê Văn Tung và Thiếu Tá Lê Văn Triệu, sau đó hạ sát ông Diệm và ông Nhu. Ấy thế mà sáng 30.1.1964, khi linh Nhảy Dù bắt Thiếu Tá Nhung trước mặt ông và dẫn đi, rồi tối hôm đó hạ sát, ông chẳng có một lời nào!&lt;br /&gt;(2) Sáng ngày 30.4.1975, bộ chỉ huy 3 chiến thuật của Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù đang quần thảo với Việt Cộng trước cổng Bộ Tổng Tham Mưu ở Lăng Cha Cả thì Tổng Thống Dương Văn Minh ra lệnh đầu hàng. Thiếu Tá Phạm Châu Tài, chỉ huy trưởng bộ chỉ huy 3 chiến thuật, đã nói chuyện với Tổng Thống Dương Văn Minh qua điện thoại:&lt;br /&gt;- Tôi là chỉ huy trưởng cánh quân đang tử chiến với Việt Cộng ở Bộ Tổng Tham Mưu, tôi đang cố liên lạc với Bộ Tổng Tham Mưu thì lệnh ngưng chiến đã ban ra và quân của Việt Cộng vẫn còn đang tiến về thủ đô. Tôi vào trong Bộ Tổng Tham Mưu thì không còn một tướng lãnh nào ở đây, họ đã bỏ chạy hết, do đó tôi muốn nói chuyện với Tổng Thống để xin quyết định.&lt;br /&gt;Tổng Thống Minh trả lời:&lt;br /&gt;- Các em chuẩn bị bàn giao đi.&lt;br /&gt;Thiếu Tá Tài hỏi lại:&lt;br /&gt;- Có phải là đầu hàng không?&lt;br /&gt;Tổng Thống Minh trả lời:&lt;br /&gt;- Đúng vậy, ngay bây giờ xe tăng của Việt Cộng đang tiến vào Dinh Độc Lập.&lt;br /&gt;Thiếu Tá Tài nói:&lt;br /&gt;- Nếu xe tăng của Việt Cộng tiến về Dinh Độc Lập thì chúng tôi sẽ đến cứu Tổng Thống. Nếu Tổng Thống ra lệnh đầu hàng thì Tổng Thống có chịu trách nhiệm với hơn 1000 quân đang tử chiến ở Bộ Tổng Tham Mưu hay không?"&lt;br /&gt;Tổng Thống Minh trả lời:&lt;br /&gt;- Tùy ý các anh em.&lt;br /&gt;Nói xong cúp máy!&lt;br /&gt;(3) Ký giả Borries Gallasch, phóng viên tờ Der Spiegel của Đức, người ký giả ngoại quốc duy nhất có mặt trong Dinh Độc Lập vào sáng 30.4.1975, đã kể lại thái độ của Tướng Dương Văn Minh khi đối diện với các bộ đội cộng sản đến bắt ông đầu hàng như sau: Đại Tướng Dương Văn Minh im lặng. Dưới chiếc mũ cối, những người lính bộ đội nhìn ông Minh với vẻ tò mò... Cuối cùng ông Minh đã lên tiếng, hỏi một người lính: “Em trai của tôi hiện nay ra sao? Khi nào tôi có thể gặp chú ấy?”.&lt;br /&gt;Làm tướng mà phải đầu hàng là nhục rồi, nhưng lại còn hèn hơn nữa khi nói mé cho những tên bộ đội nhỏ bé của Cộng quân biết rằng ông có người em theo Việt Cộng là Dương Văn Nhựt để chứng tỏ ta đây cũng thuộc “gia đình Cách Mạng”!&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;NHỮNG NGÀY CUỐI CÙNG&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;Ngày 8.8.1983, Dương Văn Minh, được chính quyền Hà Nội cho phép di cư sang Pháp và sống với hai người con trai là Dương Minh Đức và Dương Minh Tâm. Khoảng năm 1988, ông âm thầm qua Pasadena, Nam California, Hoa Kỳ, và sống với con gái là Dương Mai đang định cư ở đó. Trong những những ngày còn lại của cuộc đời, Tướng Dương Văn Minh phải sống trong bóng tối, không dám gặp cộng đồng người Việt tại đây.&lt;br /&gt;Ngày 5.8.2001, ông bị té từ xe lăn, được đưa vào bệnh viện Huntington Memorial Hospital và qua đời ngày hôm sau, hưởng thọ 86 tuổi. Linh cữu ông cũng được phủ cờ vàng ba sọc đỏ, được di chuyển lên xe bởi 6 người thân gồm các ông Hoa Hải Đường, Nguyễn Hồng Đài, Trịnh Bá Lộc, Hoa Hải Thọ, Ngô Long và Nguyễn Trí Dũng. Sau đó, linh cửu ông đã được hoả thiêu trưa thứ bảy 18.8.2001 vào lúc 12 giờ tại vãng sanh đường Skyrose thuộc nghĩa trang Rose Hill, Nam California.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Lữ Giang&lt;br /&gt;26.4.2009&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ghi chú:&lt;br /&gt;[1] Nguyễn Chánh Thi, Việt Nam: Một trời tâm sự, Xuân Thu, Hoa Kỳ 1987, tr. 27 và 28.&lt;br /&gt;[2] Huỳnh Văn Lang, Nhân chứng một chế độ, Tập II, California, Hoa Kỳ, tr. 66 – 70.&lt;br /&gt;[3] Trần Văn Đôn, Việt Nam nhân chứng, Xuân Thu, California, Hoa Kỳ 1989, tr. 231.&lt;br /&gt;[4] Frank Snepp, Decent Intreval, Random House, New York, 1977, tr. 382 – 383.&lt;br /&gt;[5] Frank Snepp, Decent Intreval, Random House, New York, 1977, tr. 540.&lt;/div&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/4274400117116119553-3840934625369845461?l=anhhungvaphanboi.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://anhhungvaphanboi.blogspot.com/feeds/3840934625369845461/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=4274400117116119553&amp;postID=3840934625369845461' title='2 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/4274400117116119553/posts/default/3840934625369845461'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/4274400117116119553/posts/default/3840934625369845461'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://anhhungvaphanboi.blogspot.com/2009/08/duong-van-minh.html' title='Dương Văn Minh'/><author><name>Nha Kỹ Thuật</name><uri>http://www.blogger.com/profile/00058869536112748808</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='26' height='32' src='http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SKrYhjfyioI/AAAAAAAAC0w/Z-Pv_vtrYCM/S220/phamhoasize07.jpg'/></author><media:thumbnail xmlns:media='http://search.yahoo.com/mrss/' url='http://2.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SpVeWvNsXSI/AAAAAAAAGOA/mzIsZhw4wgg/s72-c/0_TUONG_DUONG_VAN_MINH_1963_jpg.jpg' height='72' width='72'/><thr:total>2</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-4274400117116119553.post-998449512354200955</id><published>2009-08-25T16:20:00.001-07:00</published><updated>2009-08-26T09:24:24.789-07:00</updated><title type='text'>Nén Hương Cho Những Biệt Kích Không Có Ngày Về</title><content type='html'>&lt;a onblur="try {parent.deselectBloggerImageGracefully();} catch(e) {}" href="http://4.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SpTCB6i-XLI/AAAAAAAAGN4/rE7rthvo0mE/s1600-h/guomthiengaiquocsize3.jpg"&gt;&lt;img id="BLOGGER_PHOTO_ID_5374133593511451826" style="DISPLAY: block; MARGIN: 0px auto 10px; WIDTH: 216px; CURSOR: pointer; HEIGHT: 216px; TEXT-ALIGN: center" alt="" src="http://4.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SpTCB6i-XLI/AAAAAAAAGN4/rE7rthvo0mE/s400/guomthiengaiquocsize3.jpg" border="0" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;strong&gt;&lt;em&gt;&lt;span style="color:#660000;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/em&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;em&gt;&lt;span style="color:#660000;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/em&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;em&gt;&lt;span style="color:#660000;"&gt;Bài viết dưới đây của Ông Lâm Lễ Trinh thâu thập những dữ kiện của những tài liệu có cái nhìn không thiện cảm và xu hướng một chiều của một vài cá nhân Mỹ như tài liệu của ông Sedwich Tourison chỉ có khuynh hướng để hoàn tất vụ kiện chính phủ hoa kỳ về Biệt Kích Sở Bắc . Cũng như các tác phẩm "The Secret War Against Hanoi của Richard H. Schultz Jr đã được Cộng Sản Việt Nam phiên dịch tài liệu để tuyên truyền trên báo chí và website. &lt;/span&gt;&lt;/em&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="FONT-WEIGHT: bold; COLOR: rgb(204,0,0)"&gt;Thời Ðệ nhị Thế chiến. Vài trò của OSS.OSS. &lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Office of Strategic Services, tiền thân của CIA, được thành lập bởi quyết định ngày 13.6.1942 của Tổng thống Franklin Roosevelt. Bộ Tham mưu Liên quân không mấy hưởng ứng mặc dù nắm quyền kiểm soát cơ quan. William Donovan là Giám đốc đầu tiên. OSS có trách vụ thực hiện các công tác bán quân sự mật như tình báo , chiến tranh tâm lý , hổ trợ các phong trào chống đối địa phương, tổ chức và huấn luyện quân du kích tại những xứ Âu châu và Á châu bị Ðức Quốc Xã và Nhựt chiếm đóng. Hồ Chí Minh bắt liên lạc được với nhóm OSS ở Côn Minh và kết thân với Thiếu tá Archemides L.A. Patti mà nhiệm vụ chính là cứu các tù binh của phe Ðồng minh. Patti chuyển cho TT Truman một bức thơ của Hồ (không được trả lời), giúp Hồ thảo bản Tuyên ngôn Ðộc lập, cung cấp võ khí và giúp huấn luyện một số cán bộ Việt Minh. Hồ cũng tiếp xúc với Trung tá OSS Peter Dewey và tướng Không quân Claire Chennault, người sáng lập toán Cọp Bay, Flying Tigers.. Từ OSS xuất thân những chuyên gia tình báo gạo cội HK như Edward Lansdale, William Colby, John K. Singlaub, Lou Conein...&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="FONT-WEIGHT: bold; COLOR: rgb(204,0,0)"&gt;CIA thay thế OSS, hoạt động tại Việt Nam (1954- 1960)&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Khi Thế chiến chấm dứt, Harry Truman giải tán OSS. Luật An ninh Qu6c gia năm 1947 thành lập cơ quan CIA, Central Intelligence Agency. Hai quyết định số NSC 4 và 4A của Tổng thống giao cho CIA điều hành nhiều vấn đề thuộc an ninh quốc ngoại.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thập niên 40 và 50 là thời kỳ "vàng son" của CIA. Ðúng vậy, ở Phi Luật tân, Ðại tá Lansdale thành công giúp Ramon Magsaysay dẹp quân phiến lọan Huks và đắc cử Tổng thống năm 1953. Tại Iran và Guatemala, CIA giựt giây cuộc lật đổ hai nhà độc tài Mohammed Mossadegh (1953) và Jacobo Guzman (1954). Tuy nhiên CIA thất bại âm mưu gây rối ở Estonia, Latvia, Lithuania, Ba Lan, Ukraine và Albania thuộc khối Xô Viết.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Các công tác chống Bắc Việt bắt đầu năm 1954, sau ngày Hiệp định Genève chia đôi tạm thời VN tại vĩ tuyến 17 để chuẩn bị bầu cử tự do năm 1956. HK cũng như Miền Nam không ký vào văn kiện. Dân hai miền Nam-Bắc có 300 ngày để định cư. Lansdale (được TT Eisenhower phái qua VN hoạt động sau ngày Ðiện Biên Phủ thất thủ 7.5.1954) thừa cơ hội cho đổ bộ ở ven biển Bắc Việt vài nhóm biệt kích qua những cuộc hành quân bí mật marops, maritime operations. Hồ Chí Minh ra lệnh cho 10.000 cán bộ ở lại Miền Nam và bũa rộng tại đây một mạng lưới gián điệp.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Năm 1956, CIA giúp tổ chức Nhóm Quan sát bán quân sự đầu tiên, the First Observation Group nằm ngoài hệ thống chỉ huy của Quân đội VNCH và do TT Diệm điều động,. Nhóm này công tác bên kia vĩ tuyến 17 để lấy tin và phá huỷ hệ thống liên lạc của địch. Năm 1958, có một thỏa ước Diệm-CIA để đưa biệt kích độät nhập Bắc Việt. Ngày 28.1.1961, trả lời câu hỏi của TT Kennedy, Giám đốc CIA Allan Dulles cho biết kết quả dưới mức mong đợi. Theo phân tích gia Herbert Weisshart, trong khối CS - nếu sánh với Nga sô, Trung quốc, Ðông Ðức và Bắc Hàn. được CIA mệnh danh quốc gia "phản gián/ vô thừa nhận, counterintelligence states, denied states" - thì Bắc Việt là nơi khó thực hiện nhất tâm lý chiến và công tác bí mật. Tình trạng này có nhiều lý do: Tại BV không thể lập khu kháng chiến maquis, kiểu Pháp thời chiến, do bên ngoài tiếp tế vì dân chúng bị nhồi sọ và hàng ngủ hoá triệt để. Mặt khác, bộ máy công an CS kềm kẹp sít sao thành thị, thôn quê đến hải phận; biên giới bị khoá chặt và không có sự giao thương, trao đổi tin tức, du lịch giữa hai miền Nam-Bắc. Bởi thế, CIA dồn 90% nổ lực vào Miền Nam. Ðã có một lúc Lansdale đề nghị tổ chức tại Bắc Việt một phong trào kháng chiến chống cộng để tạo rối loạn như ở Hung Gia Lợi năm 1956. Bộ Ngoại giao và CIA bác ý kiến này, cho là quá bạo, có thể gây đụng độ với Nga, Tàu và khai mào thế chiến.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-size:130%;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="FONT-WEIGHT: bold; COLOR: rgb(204,0,0)"&gt;Tổng thống Kennedy khởi đầu chiến tranh bất quy ước (1961)&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong phiên họp 28.1.1961 tại Hội đồng An ninh Quốc gia, J.F Kennedy – vưà đắc cử Tổng thống - tuyên bố ông muốn những cuộc hành quân biệt kích được tổ chức bên trong Bắc Việt., mở màn một giai đọạn "đấu tranh khó hôn chiến tranh (quy ước) trên nhiều phương diện...", bởi thế "...cần nghiên cứu những gì Mao Trạch Ðông và Che Guevara đã viết về chiến tranh du kích." Ngày 27..4.1961, tai Hội đồng, tướng Edward G. Lansdale, bạn thân của TT Ngô Ðình Diệm, thuyết trình rằng Việt cộng đang thành công gia tăng khủng bố và du kích tại Miền Nam VN với chủ đích lật đổ chế độ hiện lung lay. Theo lời kể lại của Richard Helms – sau này trở thành Giám đốc CIA – Bộ trưởng Tư pháp Robert Kennedy, Bộ trưởng Quốc phòng McNamara, hai anh em Bundy, Walt Rostow và tướøng Maxwell Taylor ủng hộ hăng hái ý kiến của Tổng thống nhưng không có kinh nghiệm nhiều về vấn đề.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;TT Kennedy chỉ định một ban nghiên cứu do Roswell Gilpatric,Thứ trưởng Quốc phòng, chủ tọa và gồm có Lansdale, Rostow,Alexis Johnson và Desmond Fitzgerald, để thảo một "Chương trình Hành động cho VN, Program of Action for Vietnam". Phúc trình, nạp đầu tháng 5.1961, cho biết lối 58% lãnh thổ Miền Nam bị CS kềm toả. Phúc trình đề nghị chấn chỉnh gấp hệ thống an ninh và phát triển trong xứ, kèm theo một kế hoạch xâm nhập bí mật Miền Bắc. Ngày 11.5.1961, TT Kennedy chấp nhận và nóí rỏ trong quyết định hành pháp NSAM 52 "Mục tiêu của HK là .ngăn CS thôn tính Miền Nam; dựng tại đây một xã hội dân chủ vững vàng bằng cách áp dụng cấp bách một loạt biện pháp mật về mặt quân sự, chính trị, kinh tế và tâm lý&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;"Cuộc chiến bất quy ước chống Bắc Việt trải qua hai giai đọan từ Kennedy cho đến Nixon.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="FONT-WEIGHT: bold; COLOR: rgb(204,0,0)"&gt;A –Giai đọan 1961 -1962: &lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Luật sư William Colby, tốt nghiệp Princeton, nói rành tiếng Pháp, là trưởng đoàn CIA tại Saigon từ 1959. Ông chủ trương "gia tăng sự bất ổn tại Bắc Việt để lập thăng bằng với tình trạng thiếu an ninh mà cộng sản tạo ở Miền Nam." Gilbert Layton điều khiển ngành đặc công. Vì phương tiện giới hạn cho nên CIA chỉ đưa được trên vĩ tuyến 17, bằng đường bộ, đường biển và thảy dù, lối 30 biệt kích tổ chức thành toán (teams), mổi toán 6 người, và một số gián điệp viên hoạt động đơn độc (singletons). Lực lượng đặc công gồm đa số người Bắc di cư vào Nam sau Hiệp định Genève 1954. Thoạt tiên, họ có trách vụ " tổ chức trên đất địch một căn cứ du kích" nhưng về sau, vào đầu năm 1962, vì vấp phải khó khăn thực tế, Colby phải đổi hướng công tác của họ thành tình báo, phá hoại, chiến tranh tâm lý và rải truyền đơn "Gươm Thiêng Ái Quốc". Dù đổi nhứ thế, kế hoạch vẫn thất bại nặng , theo phúc trình của Ủy ban 303, The 303 Committee, được Toà Bạch ốc đặt ra để trắc lượng chiến dịch: Gần tất cả các biệt kích vượt tuyến bị CS bắt giử, tra tấn, thủ tiêu hay buộc cọng tác với chúng. Ủy ban điều tra nêu ra nhiều lý do thất bại: Hoa kỳ giao phó cho Chính quyền Saigon tuyển mộ trực tiếp các biệt kích nên không kiểm soát được về vấn đề nội gián. Một khi lọt vào Bắc Việt họ không liên lạc dược với nhau và bị dân địa phương nhận diện mau chóng; CS gài tình báo vào phiá đối phương. Phương cách thả dù các đặc công mà không chuẩn bị cho họ một cứ điểm đổ bộ an toàn để họat động trong lòng địch – The Blind Drop concept – tỏ ra tai hại. Theo lời kể lại của cựu Thiếu tá biệt kích Trần Khắc Kính, hiện ngụ tại Californie, đêm 2.6.1961, Trung tá không quân Nguyễn Cao kỳ lái chiếc máy bay C47 bay ra Bắc Thái thả dù toán Castor.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tai hại nhất là Averell Harriman, "thầy dùi" của TT Kennedy, vận động để ba phe Lào (Quốc gia-Cộng sản -Pathet) , Nga sô và Bắc Việt chấp nhận trung lập hoá xứ Lào tại Hội nghị Genève. Theo Harriman, giải pháp trung lập hoá ít nguy hiểm hơn chọc tức Bắc kinh bằng cách tấn công trực tiếp Bắc Việt. Sau ngày ký Hiệp ước 6.7.1962, Mỹ rút hết quân. Hànội rút tượng trưng ...40 cán bộ (!)ä và gài lại 10.000 du kích ở Thượng Lào. Dùng Lào làm bàn đạp, CSVN gấp mở rộng đường mòn Hồ Chí Minh (khai thông từ thập niên 50) để ào ạt xua quân vào Nam dưới mũi của Ủy ban Kiểm soát Quốc tế. Chỉ trong tháng 6.1962 mà thôi, Hànội đưa được 1.500 lính chính qui qua ngã Lào và Miên. Thế quân sự nghiêng hẳn có lợi về phiá Bắc Việt.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="FONT-WEIGHT: bold; COLOR: rgb(204,0,0)"&gt;B – Sau 1962: Ngũ Giác Ðài thay thế CIA. &lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cuối 1961, các phúc trình báo động của Ban Thẩm lượng Tình Báo Quốc gia , National Intelligencve Estimate (hay NIE) thúc Kennedy dứt khoát chấm dứt công tác bán quân sự của CIA ở Bắc Việt và chuyển trách nhiệm qua Ngủ Giác Ðài. Sự thất bại đổ bộ tại Vịnh Con Heo, Bay of Pigs Cuba, ngày 28.6.1961 để mưu lật đổ Fidel Castro, càng chứng rỏ CIA bất tài. Tháng bảy 1962, McNamara triệu tập đại diện của Bộ Quốc phòng, Ban chỉ huy Thái Bình Dương, CIA, Bộ Ngoại giao và cơ quan MACV tại Honolulu nghiên cứu kế họach Operation Switchback. Tướng Harkins , xếp MACV – con gà nòi của Maxwell Taylor tại Sàigòn - tỏ ra rất lạc quan mặc dù cuối 1962, 300 du kích Việt cộng kháng cự thành công tại Ấp Bắc, Ðồng Tháp Mười, với Sư đoàn 7 Bộ binh của VNCH. Báo chí và công luận HK xao xuyến mạnh về trận đánh này.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="FONT-WEIGHT: bold; COLOR: rgb(204,0,0)"&gt;TT Johnson cho thành lập SOG (1964) . Kế họach OPLAN 34A &lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vì hệ thống biệt kích trên vĩ tuyến 17 do CIA sắp xếp nên cần có một giai đọan chuyển tiếp, CIA và Quân đội cọng tác. Giai đọan này kéo lằng nhằng cho đến 1964. Ngày 24.1.1964, Bộ Tư lệnh MACV tại Sàigòn ra công văn thành lập cơ quan Nghiên cứu và Quan sát SOG, để thi hành kế hoạch Operation Plan trên đất Bắc Việt. OPLAN 34A được TT Johnson chấp thuận, 4 ngày sau vụ ám sát Kennedy, chiếu đề nghị của McCone ,Mc Namara, Rusk, Bundy. và tướng Krulak. Kế họach này – do Partain, Woolard, McLane và Kingston liên tiếp phụ trách - gồm có 72 lọai biện pháp để thực hiện trong 12 tháng, nhằm 2,062 mục tiêu. Về sau, Giáøm đốc CIA William Colby có nhắc lại: "Lúc đó, tôi đã lưu ý McNamara các chiến dịch này không thể thành công. Quan điểm của phiá Quân đội (HK)ï là CIA hành động quá ít, quá chậm và không đi sâu được vào khối dân chúng ở Bắc Việt. Ðây là McNamara cổ điển: Các con số trả lời cho tất cả, Numbers are answers to everything! Ôâng ta tin rằng chỉ cần gia tăng ào ạt những cố gắng hoạt động bí mật thì sẻ gây rối lọan bên trong Bắc Việt và có thể buộc Hồ Chí Minh ngưng ủng hộ kháng chiến ở Miền Nam!" (đọc "Secret War" trang 36):&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Kế họach OP 34 tổ chức bốn toán biệt kích mang bí danh Bell, Remus, Tourbillon và Easy, tổng số gồm lối 30 người . Toán thứ năm, Europa, được CIA đưa ra Bắc vào tháng hai 1962, đã ngưng liên lạc bằng ra-dô và coi như mất luôn. Ngoài ra, CIA còn xử dụng một gián điệp viên có bí danh Ares. CIA cũng trao lại cho SOG trại Long Thành đang huấn luyện gần 169 cán bộ và một vài trụ sở ở trung tâm Sàigòn. McNamara và Hoa Thịnh Ðốn hối thúc SOG bắt tay vào việc. Từ tháng 4.1964 cho đến tháng 10.1967, gần 250 biệt kích chia thành 30 toán, được gài thêm vào Bắc Việt. Nếu cọng với số người của CIA họat động sẳn thì tổng số lên đến 500. Cuối 1967, có tấùt cả 7 toán đặc công: Remus, Tourbillon, Easy, Eagle, Hadley, Red Dragon, Romeo, và một gián điệp mang tên Ares. Năm 1968, cơ quan DIA, Defense Intelligence Agency, trong đó có cả đại diện CIA, tổng xét thành quả và kết luận bi quan rằng phiá địch, trong gần bảy năm, chẳng những phá vỡ được các toán nóí trên mà còn xử dụng họ chống lại Miền Nam dưới nhiều hình thức (phản gián, thông tin xuyên tạc, phỉnh gạt....).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Các toán đặc nhiệm được đưa ra Bắc Việt vào những lúc khác nhau, không họat động chung một chổ, đảm nhận công tác riêng biệt và không liên lạc với nhau vì cần bảo mật tối đa : Toán Tourbillon, tại vùng Tây Bắc từ tháng 5.1962, để phá hoại và lấy tin – Toán Easy tại Sơn La từ tháng 8.1963, để liên lạc với sắc dân Mèo-Thái, tổ chức họ chống chính phủ – Toán Remus, trong vùng Ðiện Biên Phủ, từ tháng tư 1962, để thiết lập căn cứ và làm tình báo – Toán Eagle, gần biên giới Hoa Việt, vào tháng 6.1964, để tìm cách phá hoại hai con đường số 1 và 4, thiết lộ Nam Quan và sân máy bay Mai Pha – Toán Romeo, ở phiá Bắc khu phi chiến DMZ , từ tháng 11.1965, để theo dỏi các đoàn quân xa trên quốc lộ 103 – Toán Haddley, cũng ở phiá Bắc DMZ, để quan sát sự di chuyển của địch trên quốc lộ 8 nối liền với các trục giao thông số 15, 81, 12 và 121 dẫn sang Lào. – Sau hết, toán Red Dragon, từ tháng 9.1967, để hoạt động phá hoại và thông tin trong hai tỉnh Lào Cai và Yên bái.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="FONT-WEIGHT: bold; COLOR: rgb(204,0,0)"&gt;Giai đọan Nixon. Hoa kỳ rút quân. Kế hoạch OP 35 chấm dứt (30.4.1972)&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ðầu năm 1969, TT Nixon nói với Bộ Tham mưu: "Tôi sẽ chấm dứt chiến tranh. Mau chóngï." Ông gởi thông điệp cho Hànội đề nghị BV và HK đồng rút binh khỏi Miền Nam. Ðể gây áp lực, Nixon cho thả bom các đặc khu CSVN tại Miên. Hànội không nao núng, xua thêm quân vào dưới vĩ tuyến 17 và tuyên bố sẽ kiên trì đàm phán ở Hội nghị Paris "until the chairs rot, cho đến khi ghế mục!" Nixon ra lệnh cho Kissinger nghiên cứu trả đũa bằng cách phong tỏa các hải cảng địch và gia tăng oanh tạc BV. Nhưng Kissinger lại đề nghị "việt nam hoá" chiến tranh. (còn gọi là jaunissement, yellowing the war). Tháng mười .1968, chuyên gia Anh chống du kích Sir Robert Thompson – từng thành công dẹp lọan tại Mã Lai trong thập niên 50 và đã giữ vai trò cố vấn ở VN từ 1961 đến 1965 theo lời mời của Kennedy - đưa ra giải pháp này và cho biết Miền Nam, với một triệu quân tại ngũ, có thể, trong vòng hai năm, tái lập hoà bình nếu Mỹ tích cực giúp Chính phủ Sàigòn về vũ khí và kinh tế. Theo Thompson, chi phí viện trợ này vẫn còn rất rẻ vì dưới thời Truman, Mỹ đã xài tới 150 tỷ đô la. Trên thực tế, đây chỉ là một giấc mơ vì thời hạn hai năm quá ngắn. Hơn nửa, năm 1970, Nixon cho rút 150,000 lính Mỹ, bất chấp MACV báo động quyết định này sẽ gây khó cho thủ tục việt nam hoá.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tháng hai 1970, dưới sự chỉ huy của Ðại tá Don Schungel, những toán thám thính Prairie Fire. thuộc kế hoạch OP 35, thực hiện 441 chuyến ï quan sát tại Lào, dọc đường mòn Hồ Chí Minh. và gặp sự chống cự mãnh liệt của các toán truy nã, tracker teams, Bắc Việt. 12 quân nhân Mỹ tử vong , 98 bị thương và 4 mất tích.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tại Cam bốt, trong 4 tháng đầu năm 1970, kế họach thám sát Salem House khám phá BV lập nhiều căn cứ đột nhập và trạm tiếp viện gần biên giới Miên-Việt. Ngày 18.3.1970, tướng Lon Nol lật đổ Sihanouk. Cuộc hành quân hổn hợp Mỹ-Viêt mang tên Operation Bình Tây trên đất Miên phá hủy, ít nửa tạm thời, hệ thống quân sự địch. Ngày 1.5.1970, sinh viên phản chiến của Kent State biểu tình chống đối rầm rộ ở Ohio. Tiếp theo , dân chúng xuống đường tại Washington. Kết quả là, kể từ 30.6.1970, cơ quan MACVSOG không còn được phép dùng biệt kích Mỹ trên đất Miên. Tổng kết, chiến dịch Salem House đã thực hiện 577 lần xuất quân. Tất cả – trừ 19 – có tính cách thám sát.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ðể chuẩn bị tái ứng cử Tổng thống năm 1972, Nixon lấy một quyết định ngoạn mục: cắt đường mòn Hồ Chí Minh tại Lào dài theo quốc lộ 9 và tiêu hủy cơ sở BV trong vùng. Tướng Creighton Abrams, tư lệnh MACV, đề xướng chiến dịch Lam Sơn 719 do hai tướng Hoàng Xuân Lãm và James Sutherland điều động. Skip Sadler, người chỉ huy chót của MACVSOG, nói với tướng Lãm: " Mối lo lớn nhất của tôi là làm cách nào ông sẽ rút khỏi địa ngục này." Ðể dọn đường cho chiến dịch và đánh lạc hướng đối phương, các đội đặc công SOG thả dù những hình nộm , chất nổ và truyền đơn ở phiá Tây Khê Sanh và trong thung lủng Ashau nhưng tướng Võ Nguyên Giáp không để bị gạt và sẳn sàng ứng chiến với 4 sư đoàn chính quy. Lam Sơn 719 bắt đầu ngày 8 tháng hai. Sau 6 tuần chiến đấu, Quân đội VNCH tổn thất 50% và Việt cộng kiểm soát được phần đất phiá tây của Quân khu 1 và vùng DMZ. Con dường tiến về Huế không còn bị ngăn. BV chuẩn bị tổng tấn công vào mùa Phục sinh 1972.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ðại tá Roger Pezzelle, người chỉ huy cuối cùng kế hoạch đặc công OP 35, than phiền bị Hoa Thịnh Ðốn bó tay vì từ nay, mổi lần hành quân thám sát tại Miên hay Lào đều phải xin phép trước ba hôm Bộ Tham mưu Liên Quân HK ngang qua MACV. Chán nản, ông nói: "Isn’t it ridiculous?". Ngày 30.4.1972, bằng một thông cáo, Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương ra lệnh chuyển giao tất cả chương trình SOG cho Nha Giám đốc Kỹ thuật Chiến lược của VNCH. Từ tháng giêng đến cuối tháng ba, tai mắt của MACV trên lãnh thổ CS không còn nửa.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="FONT-WEIGHT: bold; COLOR: rgb(204,0,0)"&gt;Kinh nghiệm từ một sự thất bại. Vai trò tương lai của chiến tranh bất quy ước&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ðến nay, về cuộc chiến âm thầm chống Bắc Việt, có nhiều phóng sự giật gân của tác giả ngoại quốc hay hồi ký phiến diện của một số cựu biệt kích từng bị CS giam cầm. Xuyên qua hồ sơ vừa được Bộ Quốc phòng bạch hóa - có thể chưa nói hết - thế giới nhận rỏ hơn vì sao Hoa kỳ thua ở VN về cà hai mặt, chiến tranh quy ước và chiến tranh bất quy ước. Những lý do nào khiến Mỹ thất bại trong chiến tranh thứ hai?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;1 – Thiếu chủ trương thích ứng, đồng nhất và liên tục, thiếu lãnh đạo ở cấp chóp bu. Eisenhower dùng chiến tranh mật như một lợi khí hệ trọng để thắng thế trong Chiến tranh lạnh. Kennedy, quá lý tưởng, áp dụng các phương pháp chiến tranh mật một cách năng nổ nhưng không nghiên cứu kỹ quyết tâm và phản ứng của địch. Ðể cứu vản chương trình chấn hưng xã hội "The Great Society" của ông tại Mỹ và vì bị xô đẩy bất thần vào một tình trạng khủng hoảng sau cái chết của Diệm và Kennedy, Lyndon Johnson thận trọng đối phó với Hànội theo đường lối "graduated answer/graduated pressure, trả lời/gây áp lực tùy thời " . Chính sách "gà nuốt giây thung" này bó tay SOG. Với Nixon, covert action, cuộc chiến đấu âm thầm là một chiến thuật để thoát khỏi bế tắc đối ngoại. Nói tóm tắc, HK đánh mà không muốn thắng, Công luận HK không đủ nhẫn nại để chiụ đựng một cuộc chiến dai dẳng. Ấn tượng Nga- Tàu ám ảnh không thôi Hoa Thịnh Ðốn.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Mặt khác, CIA thất sủng không hết lòng côïng tác với SOG trong giai đoạn chuyển tiếp 1962.- 1964. Nghiêm trọng hơn, các Tư lệnh liên tiếp của MACV, từ Paul Harkins, Maxwell Taylor, William Westmoreland cho đến Creighton Abrams, vẫn coi chiến tranh quy ước là biện pháp hữu hiệu duy nhất và. không tin chiến tranh mật giải quyết được gì. Quân đội từ chối sáp nhập SOG vào các kế họach chiến tranh. Ngoài ra, Ðại sứ HK William Sullivan tại Vientiane không mấy sốt sắng giúp biệt kích SOG độât nhập Lào để khuấy phá đường mòn Hồ Chí Minh, viện lẽ Hiệp ước Genève 1962 đã trung lập hoá nước này. Cấp chỉ huy cơ quan SOC – Blackburn, Singlaub và Cavanaugh - than phiền thái độ dè dặc của Sullivan gây khó khăn cho họ không ít.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;2 – Thiếu sự huấn luyện và kinh nghiệm tâm lý cần thiết. Thuyết chiến tranh bất quy ước, unconventional warfare doctrine, đến nay vẫn được xem như một phần ăn khớp với chiến tranh nóng và không có vai trò then chốt trong chiến tranh lạnh. Du kích không có mặt trận. Có nhiều khác biệt sâu rộng giữa những gì Special Warfare School tại Fort Bragg dạy suốt 15 tuần lễ cho các sĩ quan thuộc Lực lượng Ðăïc biệt và thực tế chiến trường ở Bắc Việt trong phạm vi thám báo, chiến tranh tâm lý, chống khủng bố, phá hoại hậu cần địch, phương thức để sống sót trong nghịch cảnh..vv..Công tác tiếp vận các toán xung kích vượt tuyến vấp phải muôn vàn trở ngại. Chương trình huấn luyện, tổ chức theo lối Mỹ tại các trường biệt kích Thủ Ðức và Long Thành, không thích ứng vói nhu cầu chiến lược và chiến thuật. Chính phủ Miền Nam không có tiếng nóí quyết định trong các cuộc hành quân bên kia vĩ tuyến. Ai chi địa thì chỉ huy! Nội gián len lõi vào bộ máy đánh giặc phíùa quốc gia. Ðể làm việc với đồng minh Mỹ về biệt kích, Chính phủ Sàigòn có Phòng Liên lạc Phủ Tổng thống (thời Ngô Ðình Diệm) đổi thành Nha Kỹ thuật năm 1963, do một sĩ quan cấp tá chỉ huy: Lê Quang Tung, Trần Văn Hổ, rồiVương Văn Ðông (được lối 3 tháng), sau hết Ðoàn Văn Nu.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nói tóm tắc, Mỹ thua chiến tranh quy ước lẫn bất quy ước vì dốt tâm lý Á châu, không nắm vững chiến thuật du kích, ngạo mạn, thẩm lượng sai ảnh hưởng của Bắc kinh và Mạc tư khoa đối với Hànội, đoán trật quyết chí của CSVN và coi thường đồng minh Việt Nam Cọng hoà. Miền Nam là con cờ thí trong chiến lược toàn cầu Hoa kỳ. "Ðất nước có thể tránh được chăng số mạng hẩm hiu nếu nhà cầm quyền ở Sàigon, thay vì vọng ngoại, biết sáng suốt tạo một cái thế dân tộc vững chắc và chọn con đường dân chủ thích hợp? ", người quốc gia vẫn tự hỏi như thế, tuy đã chậm. Dĩ vãng, dù sao, cũng là ông thầy tốt nếu không uổng phí bài học quá khứ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hiện không có thống kê chính thức về số cãm tử quân hy sinh tại BV. Phỏng chừng 500 người mất tích. Riêng kế họach OP 35 gồm có ba toán tổng cọng 110 sĩ quan và 615 đặc công.Trong mỗi đội thám sát có ba người Mỹ và 250 Việt. Từ tháng hai đến tháng tư 1973, Hànội phóng thích 591 tù binh HK, không có sĩ quan SOG nào. Vận mệnh của những chiến sĩ đặc nhiệm ra sao? Thời Kennedy, tổng nhân số Lực lượng Ðặc biệt lên đến 10.000 người. Thập niên 70, sụt xuống còn 3.600. Chính quyền Mỹ muốn quên họ đi, viện lẽ.... không có tuyển mộ họ công khai.(!). Theo Sedgwick Tourison ,tác giả quyển sách "Secret Army, Secret War", nxb Marine Institute, 1994, nhờ Ðại sứ HK David Lambertson ở Bangkok can thiệp mạnh, 15 người, cựu biệt kích VN đầu tiên được Sở Di cư và Nhập tịch cho vào Mỹ năm 1995. Gần đây, Quốc hội biểu quyết trợ cấp 40.000 đô cho mỗi người.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;div style="TEXT-ALIGN: center"&gt;******&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;Chiến tranh lạnh đã chấm dứt, chiến tranh nóng phản ý nguyện hoà bình của nhân loại. Hai nhóm chủ trương và chống đối chiến tranh bí mật vẫn tranh luận sôi nổi. Thời thế mới, - nửa lạnh nửa nóng -, đòi hỏi biện pháp mới, thực tế và hữu hiệu hơn. Răn đe suông hay xử dụng bừa bải võ khí tối tân không thích hợp. Tháng 11.1986, thời TT Reagan, Quốc Hội Mỹ biểu quyết thành lập SOCOM, US Special Operations Command. Cơ quan này, đặt dưới quyền điều khiển của một tướng bốn sao, có trách vụ thảo hoạch đường lối và chăm lo các vấn đề huấn luyện, điều nghiên kế hoạch và .trang bị các lực lượng tác chiến đặc biệt, special operations forces hay SOF. Nói cách khác, chính quyền HK công nhận cần tổ chức và xử dụng chiến tranh bí mật để đối phó những trường hơp "tranh chấp có cường độ thấp, low intensity conflicts hay LIC", thường xảy ra ngày nay trên địa cầu với nhóm quốc gia bất trị (còn gọi là "nước du côn, rogue nations") thích xử dụng vô tội vạ khủng bố, vũ khí giết số đông và xúi dục phiến lọan. Rắn rít độc hại hơn khủng long. Ngoài ra, sắc tộc, tôn giáo và tội ác có tổ chức cũng gây bất ổn dễ dàng. Tài khóa 1987, SOF nhận được 1,6 tỷ trong ngân sách quốc phòng 300 tỷ đô. Thời hậu chiến tranh lạnh khó kiểm soát hơn cả chiến tranh lạnh. Rối rấm có thể nổ bất luận ở đâu, lúc nào, vì mọi lý do.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong tương lai, về an ninh, Hoa kỳ sẽ trực diện nhiều thách thức quốc tế mới. Cần điểu chỉnh và cập nhật hoá thường xuyên tân chính sách, chiến lược và phương tiện. Hoa Kỳ cũng sẽ gặp trở ngại và phiền toái gây thất vọng như ở Việt Nam. Kinh nghiệm đã qua giúp siêu cường này không tái phạm sơ suất củ. Mong lắm thay!&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;LÂM LỄ TRINH&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngày 9.5.2001&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thủy Hoa Trang&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;THƯ TỊCH&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;• "The Secret War Against Hanoi" của Richard H. Shultz, JR. Harper Collins Publishers, 2000&lt;br /&gt;• "Secret Army, Secret War" của Sedgwick Tourison, Marine Institute Publ. 1994&lt;br /&gt;• "Early Covert Action on the Ho Chí Minh Trail" của Ken Conboy &amp;amp; James Morisson in VIETNAM, August 2000&lt;br /&gt;• "Project Delta Disaster" của Ken Conboy &amp;amp; J. Morrison in VIETNAM, October 2000&lt;br /&gt;• "Việt Nam, Histoire secrète d’une victoire perdue", par William Colby, Perrin , Paris , 1989&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/4274400117116119553-998449512354200955?l=anhhungvaphanboi.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://anhhungvaphanboi.blogspot.com/feeds/998449512354200955/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=4274400117116119553&amp;postID=998449512354200955' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/4274400117116119553/posts/default/998449512354200955'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/4274400117116119553/posts/default/998449512354200955'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://anhhungvaphanboi.blogspot.com/2009/08/bk-lam-le-trinh.html' title='Nén Hương Cho Những Biệt Kích Không Có Ngày Về'/><author><name>Nha Kỹ Thuật</name><uri>http://www.blogger.com/profile/00058869536112748808</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='26' height='32' src='http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SKrYhjfyioI/AAAAAAAAC0w/Z-Pv_vtrYCM/S220/phamhoasize07.jpg'/></author><media:thumbnail xmlns:media='http://search.yahoo.com/mrss/' url='http://4.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SpTCB6i-XLI/AAAAAAAAGN4/rE7rthvo0mE/s72-c/guomthiengaiquocsize3.jpg' height='72' width='72'/><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-4274400117116119553.post-4403767050188539177</id><published>2009-08-18T14:53:00.001-07:00</published><updated>2009-08-18T15:13:02.060-07:00</updated><title type='text'>Anh Hùng và bội phản</title><content type='html'>&lt;a href="http://2.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/Sosi_6KJRrI/AAAAAAAAGLI/CDDKPwGwi6Q/s1600-h/GanHuyChuongHueandDinh.JPG"&gt;&lt;img id="BLOGGER_PHOTO_ID_5371425461908358834" style="DISPLAY: block; MARGIN: 0px auto 10px; WIDTH: 269px; CURSOR: hand; HEIGHT: 400px; TEXT-ALIGN: center" alt="" src="http://2.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/Sosi_6KJRrI/AAAAAAAAGLI/CDDKPwGwi6Q/s400/GanHuyChuongHueandDinh.JPG" border="0" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;Chuyện Trò Cùng Ðồng Ðội: &lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;Anh hùng và bội phản&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;Monday, April 07, 2008&lt;br /&gt;Huy Phương&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;&lt;strong&gt;&lt;span style="color:#003300;"&gt;Trước tháng 4 năm 1972, Trung Tá Trần Ngọc Huế và Trung Tá Phạm văn Ðính đều là hai anh hùng của Quân Lực VNCH, cả hai đều đã từng chỉ huy đơn vị tinh nhuệ của SÐ IBB là Ðại Ðội Hắc Báo. Năm 1971, Trung Tá Trần Ngọc Huế là Tiểu Ðoàn Trưởng TÐ 2/2 đánh vào Shépone trong cuộc hành quân Lam Sơn 719. &lt;/span&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/em&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;em&gt;&lt;strong&gt;&lt;span style="color:#003300;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/em&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;em&gt;&lt;strong&gt;&lt;span style="color:#003300;"&gt;Vị trí của ông đã bị cộng sản tràn ngập và ông bị bắt làm tù binh và bị đưa ra Bắc và ở trong nhà tù 13 năm. Kẻ bội phản là cựu Trung Tá Phạm Văn Ðính, Trung Ðoàn Trưởng Trung Ðoàn 56 (Sư Ðoàn 3BB) tại căn cứ Tân Lâm (Carrol), cuối tháng 4, 1972 đã đầu hàng trước quân đội, không những chỉ đầu hàng mà Trung Tá Ðính đã theo giặc, vì sau đó ông đã lên đài phát thanh Hà Nội kêu gọi các chiến hữu ngày trước của ông buông súng theo “cách mạng” và đeo “quân hàm” trung tá của “Quân Ðội Nhân Dân”. &lt;/span&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/em&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;em&gt;&lt;strong&gt;&lt;span style="color:#003300;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/em&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;em&gt;&lt;strong&gt;&lt;span style="color:#003300;"&gt;Ông “được” cộng sản cho làm “quản giáo” tại một trại tù (học tập cải tạo) đang giam giữ những chiến hữu của ông ngày trước. &lt;/span&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/em&gt;&lt;/div&gt;&lt;em&gt;&lt;strong&gt;&lt;span style="color:#003300;"&gt;&lt;div&gt;&lt;br /&gt;Sau tháng 4, 1975, ông “Trung Tá” Phạm Văn Ðính vào miền Nam, nhưng sau đó không nghe nói ông nắm đơn vị nào trong quân đội Bắc Việt. Tôi nghĩ dù ngày nay miền Nam đã bị cộng sản thôn tính, dân chúng Huế-Thừa Thiên cũng như người miền Nam đã nhìn ông với đôi mắt ghẻ lạnh, cho đến khi ông qua đời, không biết ông có ngượng ngùng với cái cấp bậc trung tá ông đeo trên cổ áo hay không.&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;Sau năm 1975, tôi nghe những người cộng sản gọi những nhân vật trong hàng ngũ “chiêu hồi” là những kẻ “đầu hàng phản bội”, không biết họ dùng danh từ gì để gọi ông Trung Tá Phạm Văn Ðính. &lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;br /&gt;Andrew Wiest là một giáo sư sử học tại Ðại Học Southern Mississippi, tác giả nhiều cuốn sách về chiến tranh, trong đó đã có hai cuốn viết về Việt Nam như “The Vietnam War, 1956-1975” (2002), “Rolling Thunder in a Gentle Land: The Vietnam War Revisited” (2006). Năm nay (2008), ông vừa xuất bản một cuốn sách nhan đề “Vietnam's Forgotten Army- Heroisme anh Betrayal in the ARVN” để nói đến hai nhân vật Trần Ngọc Huế và Phạm Văn Ðính. &lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;Thoạt đầu người ta giới thiệu Trung Tá Phạm Văn Ðính với ông, cuộc đời của một sĩ quan xuất sắc của VNCH trở thành một kẻ bỏ súng chạy theo địch quân là một đề tài khá hấp dẫn để trở thành một cuốn sách hay về chiến tranh Việt Nam. Giáo Sư Andrew Wiest đã mời ông Phạm Văn Ðính sang New Orleans Hoa Kỳ và tổ chức các buổi nói chuyện tại các đại học Hoa Kỳ về đề tài chiến tranh Việt Nam, tuy nhiên ông đã được sự góp ý của nhiều giới chức Hoa Kỳ hủy bỏ dự định này. Các sĩ quan cao cấp Hoa Kỳ hiện nay đã từng là cố vấn trong các đơn vị mà ông Phạm Văn Ðính phục vụ trước kia, đã giới thiệu đến tác giả Andrew Wiest, Trung Tá Trần Ngọc Huế, đã xuất thân từ những đơn vị tương tự như ông Ðính, nhưng đã xứng đáng hơn với danh vị anh hùng. &lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;Cuốn sách được hoàn tất với cuộc đời của hai Trung Tá Trần Ngọc Huế và Phạm Văn Ðính với những chiến trận lớn tại Vùng I Chiến Thuật mà cả hai đều đã đổ máu cho miền Nam nhưng về sau quyết định của hai người đã đưa họ về những lối rẽ khác nhau. &lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;br /&gt;Ở trong trại tù tập trung của cộng sản dựng lên đầy dẫy ở hai miền Nam Bắc sau tháng 4 năm 1975, các chiến hữu ngày trước của chúng ta cũng đã có rất nhiều anh hùng nhưng không thiếu kẻ bội phản. &lt;/div&gt;&lt;div&gt;Những anh hùng của chúng ta đã đứng thẳng trước kẻ thù, có người đã chấp nhận gông cùm và đã có người hiên ngang trước cái chết. Trong khi đó có những người gọi là bạn tù của chúng ta đã cam tâm chịu sự sai khiến của bọn cai tù, nhận những chức vụ “tay sai” để hành hạ, đánh đập anh em không thương tiếc, hoặc hèn hạ làm những tên chỉ điểm, mà chúng ta thường gọi chúng là “ăng ten”. Ra hải ngoại, những người cựu tù nhân chính trị cũng đã nhận định rõ, ai là anh hùng mà ai là những kẻ đầu hàng phản bội trong các nhà tù cộng sản trước đây, chỉ tiếc là những những người này cũng cùng đi một chuyến tàu với chúng ta đến đây, lẫn lộn trong cộng đồng này. &lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;Tuy đã tha thứ nhưng thực là chúng ta không bao giờ quên những khuôn mặt này, và hy vọng họ sẽ thức tỉnh và biết thế nào là và sự khinh rẻ của đồng đội hay đồng bào dành cho những hành vị bội phản, nhất là trong bối cảnh của cộng đồng tỵ nạn cộng sản hiện nay đang manh nha những thái độ đầu hàng hay thỏa hiệp đáng khinh miệt.&lt;/span&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/em&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/4274400117116119553-4403767050188539177?l=anhhungvaphanboi.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://anhhungvaphanboi.blogspot.com/feeds/4403767050188539177/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=4274400117116119553&amp;postID=4403767050188539177' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/4274400117116119553/posts/default/4403767050188539177'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/4274400117116119553/posts/default/4403767050188539177'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://anhhungvaphanboi.blogspot.com/2009/08/anh-hung-va-boi-phan.html' title='Anh Hùng và bội phản'/><author><name>Nha Kỹ Thuật</name><uri>http://www.blogger.com/profile/00058869536112748808</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='26' height='32' src='http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SKrYhjfyioI/AAAAAAAAC0w/Z-Pv_vtrYCM/S220/phamhoasize07.jpg'/></author><media:thumbnail xmlns:media='http://search.yahoo.com/mrss/' url='http://2.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/Sosi_6KJRrI/AAAAAAAAGLI/CDDKPwGwi6Q/s72-c/GanHuyChuongHueandDinh.JPG' height='72' width='72'/><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-4274400117116119553.post-1198365050378905505</id><published>2009-08-17T23:09:00.000-07:00</published><updated>2009-08-18T13:46:40.600-07:00</updated><title type='text'>Những Kẻ Phản Bội</title><content type='html'>&lt;div align="left"&gt;Trang 214 và trang 215 của cuốn sách Lực Lượng Đặc Biệt giữa Nhũng Tổ Chức Chiến Tranh không quy uớc đã phản bội và bôi bác anh em toán Công Tác Nha Kỹ Thuật. &lt;/div&gt;&lt;div align="left"&gt;Chiếu ngày 29 tháng 4 năm 1975 khi Trung Tá Phan Bá Kỳ Trưởng Phòng 5 (Chiến Tranh Chính Trị) Sở Công Tác và gia đình lên tàu quân vận đậu tại kho 18 Khánh Hội để rời Việt Nam, ông có biết cùng giây phút đó biết bao chiến sĩ Nha Kỹ Thuật vẫn còn trong vùng hành quân ? một số anh em đã chết, bị bắt làm tù binh, bị thương và tìm phương tiện cá nhân để vào Bệnh Viện Cộng Hoà và bị đuổi ra ngay ngày hôm sau khi bộ độ Cộng Sản tràn ngập khu vực này, 29 năm sau cuốn sách của ông ra đời để phô trương sự phồn thịnh của đời sống ông trong những năm sống tại Hoa Kỳ.&lt;/div&gt;&lt;div align="left"&gt;Đơn vị Lực Lượng Đặc Biệt của ông đã giải tán vào năm 1972 và sau đó ông thuyên chuyển về Sở Công Tác Nha Kỹ Thuật với chức vụ Trưởng Phòng 5 CTCT, trong cuộc chiến anh em đổ xương máu để tô điểm cho đời sống ông thêm vinh hiễn và hôm nay đón nhận những gáo nước lạnh tạt vào mặt, những gáo nưóc của kẻ tiểu nhân, phản bội và hèn hạ.&lt;/div&gt;&lt;div align="left"&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="left"&gt;Cuốn sách nầy đã bị tẩy chay trong một buổi họp mặt tân niên do Hội Nha Kỹ Thuật Nam California tổ chức và gần đây trong cuốn Đặc San phát hành trong đại hội Nha Kỹ Thuật năm 2008 tại Orlando Florida cũng đã bị anh em xé bỏ và vứt vào thùng rác vì đã trích đăng những lời lẽ hồ đồ này.&lt;/div&gt;&lt;div align="center"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;a href="http://3.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SorpTRidXEI/AAAAAAAAGKY/x_xx87NDXwY/s1600-h/img174size6.jpg"&gt;&lt;img id="BLOGGER_PHOTO_ID_5371362022927457346" style="DISPLAY: block; MARGIN: 0px auto 10px; WIDTH: 259px; CURSOR: hand; HEIGHT: 400px; TEXT-ALIGN: center" alt="" src="http://3.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SorpTRidXEI/AAAAAAAAGKY/x_xx87NDXwY/s400/img174size6.jpg" border="0" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://2.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SorpJhAj2iI/AAAAAAAAGKQ/7yU6bVg_zsA/s1600-h/img175size6.jpg"&gt;&lt;img id="BLOGGER_PHOTO_ID_5371361855281551906" style="DISPLAY: block; MARGIN: 0px auto 10px; WIDTH: 400px; CURSOR: hand; HEIGHT: 302px; TEXT-ALIGN: center" alt="" src="http://2.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SorpJhAj2iI/AAAAAAAAGKQ/7yU6bVg_zsA/s400/img175size6.jpg" border="0" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;a onblur="try {parent.deselectBloggerImageGracefully();} catch(e) {}" href="http://3.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SopF_pf0sTI/AAAAAAAAGHo/Xeq4HV573rg/s1600-h/img174.jpg"&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;a onblur="try {parent.deselectBloggerImageGracefully();} catch(e) {}" href="http://4.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SopFzN47n3I/AAAAAAAAGHg/Ebhnu67Zy5M/s1600-h/img175.jpg"&gt;&lt;/a&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/4274400117116119553-1198365050378905505?l=anhhungvaphanboi.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://anhhungvaphanboi.blogspot.com/feeds/1198365050378905505/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=4274400117116119553&amp;postID=1198365050378905505' title='11 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/4274400117116119553/posts/default/1198365050378905505'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/4274400117116119553/posts/default/1198365050378905505'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://anhhungvaphanboi.blogspot.com/2009/08/nhung-ke-phan-boi.html' title='Những Kẻ Phản Bội'/><author><name>Nha Kỹ Thuật</name><uri>http://www.blogger.com/profile/00058869536112748808</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='26' height='32' src='http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SKrYhjfyioI/AAAAAAAAC0w/Z-Pv_vtrYCM/S220/phamhoasize07.jpg'/></author><media:thumbnail xmlns:media='http://search.yahoo.com/mrss/' url='http://3.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SorpTRidXEI/AAAAAAAAGKY/x_xx87NDXwY/s72-c/img174size6.jpg' height='72' width='72'/><thr:total>11</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-4274400117116119553.post-4537708790759242992</id><published>2008-08-01T13:04:00.001-07:00</published><updated>2009-08-24T15:36:08.474-07:00</updated><title type='text'>Bài Viết Trên Đặc San NKT 2008</title><content type='html'>&lt;div align="center"&gt;&lt;a href="http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SJNsXi3JYhI/AAAAAAAACuM/XHTq0sDF_k0/s1600-h/SoCongTacNhaKyThuat.jpg"&gt;&lt;strong&gt;&lt;img id="BLOGGER_PHOTO_ID_5229642744058176018" style="DISPLAY: block; MARGIN: 0px auto 10px; CURSOR: hand; TEXT-ALIGN: center" alt="" src="http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SJNsXi3JYhI/AAAAAAAACuM/XHTq0sDF_k0/s400/SoCongTacNhaKyThuat.jpg" border="0" /&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/a&gt;&lt;strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;/strong&gt;&lt;a href="http://2.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SonWbcGZ3qI/AAAAAAAAGGs/E4aqKIYatNE/s1600-h/dacsan1size6PhanBaKy.jpg"&gt;&lt;strong&gt;&lt;img id="BLOGGER_PHOTO_ID_5371059797503893154" style="DISPLAY: block; MARGIN: 0px auto 10px; WIDTH: 222px; CURSOR: hand; HEIGHT: 400px; TEXT-ALIGN: center" alt="" src="http://2.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SonWbcGZ3qI/AAAAAAAAGGs/E4aqKIYatNE/s400/dacsan1size6PhanBaKy.jpg" border="0" /&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/a&gt; Nội dung trích trong sách "Lực Lượng Đặc Biệt Giữa Những Tổ Chức Chiến Tranh Không Quy Ước" do Ông Phan Bá Kỳ phát hành và được Ông Huỳnh Thành Nhơn trích ra và đăng tải vào đặc san Nha Kỹ Thuật 2008 nhân kỳ Đại Hội NKT tại địa phương Orlando Florida&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Những ngày cuối cùng của cuộc chiến Việt Nam cùng theo vận mệnh của đất nước các Chiến Sĩ Nha Kỹ Thuật đã phải trả một giá thật đắc. Các Toán Công Tác Nhận lệnh trực tiếp của Quân Đoàn 3 xâm nhập vùng Bình Dương Lái Thiêu, Bún và vùng ven Đô, để cập nhật hóa tin tức cho BTTM/Quân Lực VNCH.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thành Phố Sàigòn Thủ Đô của Việt Nam Cộng Hòa bị bao vây với nhiều Sư Đoàn Cộng Quân Cùng nhiều Trung Đoàn Trọng Pháo, hỏa tiển và Thết Gíap chuẩn bị cho việc tắm máu tình hình nóng bỏng nhất của nhũng gìây phút thật cuối cùng của cuộc chiến Việt Nam Ngòai những công tác thâu thập tin tức, các Toán Công Tác còn nhận lãnh Bảo vệ yếu nhân, ứng chiến những yếu điểm của Bộ Tổng Tham Mưu giao phó.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nhũng giây phút cam go, sinh tữ các Chiến Sĩ Nha Kỹ Thuật không từ nan bất cứ một công tác nào giao phó và chiến đấu anh dũng cho đến nhũng phút giây thật cuối cùng nhất của cuộc chiến. Ngày 29 tháng 4 năm 1975, những tóan Công Tác trong vùng hành quân bị kẹt lại nhũng Chiến Sĩ bị thương trong nhũng cuộc chạm sung với địch quân bị thương phải không có phương tiện để đem theo cùng đơn vị khi di tản, phải để lại Quân Y Viện Cộng Hòa và ngày sau đó Cộng Quân đã đuổi họ ra khỏi nhà thương mang theo những chai nước biển những tấm băng đầy máu của ngày hôm trước. một số tóan triệt xuất đường bộ khi về đến đơn vị tất cà đã di tản ngày hôm trước.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Anh em sau này cam chịu cùng số phận với tất cả quân nhân QLVNCH trong cảnh tù đầy và trả thù của Quân Cộng Sản Việt Nam. Bài viết trong cuốn sách tựa đề Lực Lượng Đặc Biệt giữa những tổ chức Chiến Tranh khônng quy ưóc Phát hành năm 2004 của Ông Phan Bá Kỳ Một Sỉ Quan Cao Cấp, phòng Chiến Tranh Chính Trị thuộc Sở Công Tác Nha Kỹ Thuật trên trang 215 và được trích ra để đăng lại trên Đặc San Nha Kỹ Thuật 2008 trang 27. Phát hành trong Đại Hội Nha Kỹ Thuật được tổ chức tại Thành Phố Orlando Tiểu Bang Florida Vào Lể Độc Lập Hoa Kỳ năm 2008 đã không diễn tả trung thực và có tính cách bội bác đơn vị Nha Kỹ thuật của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa với nội dung đề cao cá nhân của tác giả, phủ nhận những hy sinh xương máu và Chiến đấu đến giây phút cuối cùng của các Chiến Sĩ Anh Hùng Nha Kỹ Thuật Để tránh những việc đáng tiếc xảy ra trong tương lai một số yêu cầu xin đưọc giải quyết trong thời gian sớm nhất&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Yêu Cầu Ban Tổng Hội Nha Kỹ Thuật triệu tập một phiên họp E-MEETING để lấy quyết định chung .&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;1- Văn kiện điều chỉnh ( correction page insert) dữ kiện gửi đến tất cả nhũng nơi tác gỉa đã phân phối sách.&lt;br /&gt;2- Văn kiện điều chỉnh chính thức của tác gỉa (Phan Bá Kỳ) phổ biến rông rải trong Bản Tin và được guĩ đến member Nha Kỹ Thuật Và sẽ được phổ biến rộng rãi trên internet củng như truyền thong và báo chí tại Hoa Kỳ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;3- Ban Tổ Chức Đại Hội Nha Kỹ Thuật sẽ phổ biến Văn Kiện điều chỉnh đến tất cả nhũng nơi đã phân phối Đặc San Nha Kỹ Thuật 2008&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Chúng tôi sẽ tổng hợp các ý kiến đóng góp của tất cả qúy Niên Trưởng và Qúy Chiến Hửu và sẽ thông báo những e-mail, điện thoại và nhũng phương tiện để chuyển đạt tin tức sằp đến.&lt;br /&gt;Trân Trọng&lt;br /&gt;Phạm Hòa Toán 723 ĐCT72/SCT/NKT/BTTM/QLVNCH&lt;/strong&gt; &lt;/div&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/4274400117116119553-4537708790759242992?l=anhhungvaphanboi.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://anhhungvaphanboi.blogspot.com/feeds/4537708790759242992/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=4274400117116119553&amp;postID=4537708790759242992' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/4274400117116119553/posts/default/4537708790759242992'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/4274400117116119553/posts/default/4537708790759242992'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://anhhungvaphanboi.blogspot.com/2008/08/bi-vit-trn-c-san-nkt-2008.html' title='Bài Viết Trên Đặc San NKT 2008'/><author><name>Nha Kỹ Thuật</name><uri>http://www.blogger.com/profile/00058869536112748808</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='26' height='32' src='http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SKrYhjfyioI/AAAAAAAAC0w/Z-Pv_vtrYCM/S220/phamhoasize07.jpg'/></author><media:thumbnail xmlns:media='http://search.yahoo.com/mrss/' url='http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SJNsXi3JYhI/AAAAAAAACuM/XHTq0sDF_k0/s72-c/SoCongTacNhaKyThuat.jpg' height='72' width='72'/><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-4274400117116119553.post-7050709528819409022</id><published>2008-07-31T15:11:00.000-07:00</published><updated>2009-08-17T15:29:36.649-07:00</updated><title type='text'>Trung Tá Phan Bá Kỳ</title><content type='html'>&lt;span style="FONT-WEIGHT: bold"&gt;&lt;br /&gt;Phan Bá Kỳ&lt;br /&gt;17541 Wayne Ave&lt;br /&gt;Irvine, CA 92714-6657&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong thời gian Đại Hội Nha Kỹ Thuật kỳ 7 tổ chức tại Orlando Florida, Ban Tổ Chức đã phát hành Đặc San nhân ngày Hội Ngộ và nội dung có đăng bài viết Lịch Sữ Nha Kỹ Thuật của Ông Phan Bá Kỳ.&lt;br /&gt;Tuy đã được cập nhật hóa một số dữ kiện vể trường hợp của cố Đại Tá Ngô Thế Linh&lt;br /&gt;ấn bản lần thứ hai đả không phản ảnh trung thực vể dữ kiện xảy ra vào ngày 29 tháng 4năm 1975 tại kho 18 Khánh Hội Sàigòn.&lt;br /&gt;Nhũng ngảy cuối cùng của cuộc chiến trong khi các cấp chỉ Huy tối cao của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa di tản chiến thuật riêng đơn vị Sở Công Tác , cũng như nhiều đơn vị của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa vẫn Anh Dũng Chiến Đấu cho đến nhũng giây phút cuối cùng nhất của cuộc chiến,&lt;br /&gt;Các Toán Công Tác Xâm Nhập vùng Lái Thiêu Bình Dương và nhũng vùng phu cận để đem lại những tin tức cập nhật hóa cho Quân Đoàn 3, và số đông đã không may mắn kẹt lại bị Cộng Quân bắt làm tù binh, tù cải tạo, những anh em bị thương trong những ngày cuối đã bị thương và bỏ vào Bệnh Viện Cộng Hòa. Sau ngày cộng sàn Chiếm đóng các anh em bị đuổi ra khỏi nhà thương không thuốc men chửa trị .&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trung Tá Phan Bá Kỳ đơn vị cuối cùng Trưởng phòng 5 Sở Công Tác Nha Kỹ Thuật.&lt;br /&gt;Di tản ngày 29 tháng 4 năm 1975, hiện định cư tại miền Nam California . &lt;/span&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/4274400117116119553-7050709528819409022?l=anhhungvaphanboi.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://anhhungvaphanboi.blogspot.com/feeds/7050709528819409022/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=4274400117116119553&amp;postID=7050709528819409022' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/4274400117116119553/posts/default/7050709528819409022'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/4274400117116119553/posts/default/7050709528819409022'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://anhhungvaphanboi.blogspot.com/2008/07/trung-t-phan-b-k.html' title='Trung Tá Phan Bá Kỳ'/><author><name>Nha Kỹ Thuật</name><uri>http://www.blogger.com/profile/00058869536112748808</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='26' height='32' src='http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SKrYhjfyioI/AAAAAAAAC0w/Z-Pv_vtrYCM/S220/phamhoasize07.jpg'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-4274400117116119553.post-1783476360304579125</id><published>2008-07-30T11:46:00.001-07:00</published><updated>2008-12-11T21:20:33.088-08:00</updated><title type='text'>Nha Ky Thuat duoi mat nhin cua Phan Ba Ky</title><content type='html'>&lt;a href="http://4.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SJC3x8FG07I/AAAAAAAACpo/vUz-cLN8b6Q/s1600-h/booksize6pag1.jpg"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;" src="http://4.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SJC3x8FG07I/AAAAAAAACpo/vUz-cLN8b6Q/s400/booksize6pag1.jpg" border="0" alt=""id="BLOGGER_PHOTO_ID_5228881235946165170" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SJC3swdbRfI/AAAAAAAACpg/kUUVtkGhKxk/s1600-h/bookpage216.jpg"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;" src="http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SJC3swdbRfI/AAAAAAAACpg/kUUVtkGhKxk/s400/bookpage216.jpg" border="0" alt=""id="BLOGGER_PHOTO_ID_5228881146927597042" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://4.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SJC3nNmJguI/AAAAAAAACpY/SSjos2BNoRE/s1600-h/bookpage217.jpg"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;" src="http://4.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SJC3nNmJguI/AAAAAAAACpY/SSjos2BNoRE/s400/bookpage217.jpg" border="0" alt=""id="BLOGGER_PHOTO_ID_5228881051669594850" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://3.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SJC3fcwrpYI/AAAAAAAACpQ/7PPKLu3zaio/s1600-h/dacsan1size6.jpg"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;" src="http://3.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SJC3fcwrpYI/AAAAAAAACpQ/7PPKLu3zaio/s400/dacsan1size6.jpg" border="0" alt=""id="BLOGGER_PHOTO_ID_5228880918301353346" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SJC3Y0-HatI/AAAAAAAACpI/ASWYBclDavo/s1600-h/dacsan2size6.jpg"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;" src="http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SJC3Y0-HatI/AAAAAAAACpI/ASWYBclDavo/s400/dacsan2size6.jpg" border="0" alt=""id="BLOGGER_PHOTO_ID_5228880804541065938" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/4274400117116119553-1783476360304579125?l=anhhungvaphanboi.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://anhhungvaphanboi.blogspot.com/feeds/1783476360304579125/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=4274400117116119553&amp;postID=1783476360304579125' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/4274400117116119553/posts/default/1783476360304579125'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/4274400117116119553/posts/default/1783476360304579125'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://anhhungvaphanboi.blogspot.com/2008/07/nha-ky-thuat-duoi-mat-nhin-cua-phan-ba.html' title='Nha Ky Thuat duoi mat nhin cua Phan Ba Ky'/><author><name>Nha Kỹ Thuật</name><uri>http://www.blogger.com/profile/00058869536112748808</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='26' height='32' src='http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SKrYhjfyioI/AAAAAAAAC0w/Z-Pv_vtrYCM/S220/phamhoasize07.jpg'/></author><media:thumbnail xmlns:media='http://search.yahoo.com/mrss/' url='http://4.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SJC3x8FG07I/AAAAAAAACpo/vUz-cLN8b6Q/s72-c/booksize6pag1.jpg' height='72' width='72'/><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-4274400117116119553.post-6059402670622952048</id><published>2008-07-30T11:42:00.000-07:00</published><updated>2008-12-11T21:20:33.762-08:00</updated><title type='text'>Anh Hung Va Phan Boi</title><content type='html'>&lt;a href="http://3.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SJI20ZpFeEI/AAAAAAAACto/lgcukBObXUY/s1600-h/GanHuyChuongHueandDinh.JPG"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;" src="http://3.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SJI20ZpFeEI/AAAAAAAACto/lgcukBObXUY/s400/GanHuyChuongHueandDinh.JPG" border="0" alt=""id="BLOGGER_PHOTO_ID_5229302391194875970" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://2.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SJI0tjWzyEI/AAAAAAAACtI/fNXxdEbjbn4/s1600-h/selectedPIXsize5.jpg"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;" src="http://2.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SJI0tjWzyEI/AAAAAAAACtI/fNXxdEbjbn4/s400/selectedPIXsize5.jpg" border="0" alt=""id="BLOGGER_PHOTO_ID_5229300074520234050" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Nguyễn Kỳ Phong Ðiểm Sách&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Chuyện Hai Người Lính   Ðọc Vietnam's Forgotten Army: &lt;br /&gt;Heroism and Betrayal in the ARVN&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vietnam's Forgotten Army: Heroism and Betrayal in the ARVN&lt;br /&gt;By Andrew Wiest.&lt;br /&gt;New York University Press, 2007.&lt;br /&gt;368 pages; $35.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Một Quân Ðội Bị Bỏ Quên: Anh Hùng và Bội Phản Trong Quân Ðội VNCH, là một cuốn sách viết về hai người lính và binh nghiệp của họ trong cuộc chiến Việt Nam. Hai người lính — trong trường hợp này là hai sĩ quan — Trung tá Phạm Văn Ðính và Thiếu tá Trần Ngọc Huế. Trung tá Ðính và Thiếu tá Huế, hai ngôi sao sáng đang lên của quân lực VNCH. Hai người đang xã thân chiến đấu chống lại một chủ nghĩa mà họ thù ghét từ lúc mới lớn. Nhưng vào những giờ cuối cùng trong đời binh nghiệp, hai người chọn hai lối đi khác nhau: Thiếu tá Huế chiến đấu đến viên đạn cuối cùng rồi bị bắt làm tù binh; Trung tá Ðính, dưới áp lực của địch, đầu hàng để khỏi bị bắt làm tù binh.&lt;br /&gt;Tình tiết trong Một Quân Ðội Bị Quên giống như một cuốn tiểu thuyết, nhưng tất cả đều sự thật; đều có thể kiểm chứng được. Ðường binh nghiệp của Tr/T Ðính và Th/T Huệ gần như đi song song với nhau: cả hai là sĩ quan tác chiến; đều là chỉ huy trưởng những đơn vị vang tiếng của quân lực VNCH. Và đoạn cuối binh nghiệp của cả hai cũng giống nhau, khi bị chấm dứt trong hai trận đánh khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam: Th/T Huế trong cuộc hành quân Lam Sơn 719 năm 1971; Tr/T Ðính vào Mùa Hè Ðỏ Lửa năm 1972. &lt;br /&gt;Tr/T Phạm Văn Ðính tốt nghiệp khóa 9, Liên Trường Võ Khoa Thủ Ðức; T/T Trần Ngọc Huế, khóa 18, Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam, Ðà Lạt. Ra trường hai người về phục vụ ở miền Trung — nơi sanh ra và lớn lên của Huế và Ðính. Ðính phục vụ ở tiểu đoàn 3/trung đoàn 3/ sư đoàn 1 Bộ Binh; Huế, TÐ1/ Tr.Ð1/ SÐ1BB. Sau vài năm nếm mùi binh lửa ở vị trí thấp nhất của một sĩ quan mới ra trường, cả hai được hoán chuyển về đơn vị mới, với nhiều cơ hội thăng tiến hơn. Ðầu năm 1965, Thiếu tướng Nguyễn Văn Chuân, tư lệnh sư đoàn 1BB, quyết định thành lập một đại đội xung kích, có khả năng phản ứng nhanh để đáp ứng những trường hợp khẩn cấp ở Vùng I. Ðại đội này còn phải có khả năng trinh sát như một đại đội thám báo/ viễn thám của sư đoàn. Ðại đội tân lập đó được đặt tên Hắc Báo, nằm dưới quyền chỉ huy trực tiếp của tư lệnh sư đoàn. Và Trung úy (lên Đại úy vài tháng sau đó) Ðính được danh dự chọn làm Đại đội trưởng đầu tiên. &lt;br /&gt;Ðại đội Hắc Báo của sư đoàn 1BB có lẽ là một trong những đơn vị cấp đại đội được nhắc đến tên nhiều nhất trong quân lực VNCH. Thành hình vào tháng 2-1965, đại đội có năm trung đội tác chiến (năm 1968 có sáu trung đội) ; có một đơn vị không vận cơ hữu ứng trực 24 tiếng đồng hồ một ngày, gồm năm trực thăng chuyên chở và hai trực thăng võ trang yểm trợ. Ðại đội có một toán cố vấn Mỹ và Úc Ðại Lợi đi kèm. Sự có mặt của các cố vấn ở cấp đại đội cho thấy sự quan trọng của đơn vị này: thông thường cố vấn chỉ có mặt ở cấp tiểu đoàn trở lên. Từ lúc thành hình cho đến ngày VNCH thất thủ, đại đội Hắc Báo chưa bao giờ thất bại với những công tác giao phó. Từ những công tác giải cứu phi công bị rớt trong lòng đất địch, cho đến những cuộc đột kích vào những binh trạm của CSBV ở thung lũng A Shau, ở Co Roc, hay xa hơn bên kia biên giới Lào. Ðại tướng Creighton Abrams, tư lệnh MACV, nhiều lần nhắc đến tên đại đội Hắc Báo trong những buổi họp tham mưu cuối tuần (ghi lại trong The Abrams Tapes, của Lewis Sorley). Ít có một đại đội nào của quân lực VNCH có danh tiếng vang tận đến Bộ Quốc Phòng Mỹ ở Hoa Thịnh Ðốn như đại đội Hắc Báo. Cuối năm 1971, trong cao điểm của chương trình Việt Nam Hóa, phó giám đốc Nha Nghiên Cứu và Biến Chế của Bộ Quốc Phòng, Leonard Sullivan — đang làm việc trực tiếp cho Bộ trưởng quốc phòng Melvin Lair — sang Việt Nam nghiên cứu một kế hoạch ít tốn kém để ngăn chận đường xâm nhập Hồ Chí Minh. Trong lần viếng thăm Trung tướng Hoàng Xuân Lãm và Thiếu tướng Phạm Văn Phú vào trung tuần tháng 10-1971, Sullivan cho biết Bộ trưởng đã Laird thông báo là Không Quân Hoa Kỳ sẽ không còn tài chánh để tiếp tục dội bom ngăn chận bằng B-52 vào năm tới. Thay vào đó, bộ quốc phòng Mỹ đề nghị một phương cách ngăn chận khác là dùng những đại đội như đại đội … Hắc Báo để đột kích những binh trạm của CSBV trên đuờng mòn Hồ Chí Minh! Tiếp theo, Sullivan đề nghị quân đoàn I nên lập thêm vài đại đội Hắc Báo nữa và đưa vào Vùng II để đột kích những binh trạm ở vùng ba biên giới Việt-Miên-Lào. Nhưng hai vị tư lệnh quân đoàn và sư đoàn cho biết họ chỉ có thể thực hiện lời yêu cầu nếu có lệnh từ Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH. Hơn nữa, nhân sự của đại đội Hắc Báo không phải dể có. Trung tá Nguyễn Xuân Lộc, trưởng Phòng 2 Sư Ðoàn 1BB, cho biết nhân sự của Hắc Báo đến từ hai đại đội thám báo của trung đoàn 3 và 54. Nghĩa là hai trung đoàn này không có đại đội thám báo như hai trung đoàn 1 và 2 của SÐ 1BB, để có chổ cho nhân sự của đại đội Hắc Báo. Tóm lại, lập ra một đại đội như đại đội Hắc báo không phải là chuyện đơn giản (Ðọc thêm: Ðiện tín của Trung tướng Welborn G. Dolvin, tư lệnh Quân Ðoàn XXIV, gởi Đại tướng Creighton Abrams, tư lệnh MACV. Secret DNG 2997 Eyes Only, 20 October 1971. Subject: Visit to MR 1 of Mr. Leonard Sullivan; về vai trò của Phó giám đốc Leonard Sullivan, đọc Bernard C. Nalty, The War Agaisnt Truck.). Liên hệ và thành tích của Ðính với đại đội thiện chiến và lừng danh như Hắc Báo, làm độc giả khó giải thích được hành động đầu hàng CSBV sau này của ông.&lt;br /&gt;Trong thời gian Ðính chỉ huy đại đội Hắc Báo, Trung úy Huế, sau khi tốt nghiệp khoá sình lầy ở Mã Lai Á, được về làm sĩ quan tùy viên cho Tướng Chuân ở Sư Ðoàn 1BB. Cùng phục vụ cho một vị tư lệnh, Ðính và Huế thường gặp nhau, tìm hiểu về nhau. Sau những biến động liên tục ở miền Trung năm 1966; sau nhiều lần tư lệnh của Quân Ðoàn I và Sư Ðoàn 1 BB bị thay đổi, nhiệm sở của Ðính và Huế cũng bị thay đổi theo, nhưng thay đổi theo chiều hướng khả quan. Khi Chuẩn tướng Ngô Quang Trưởng về coi SÐ 1 BB, ông đề bạt Ðính về làm tiểu đoàn trưởng TÐ 2/ Tr.Ð 3, kiêm luôn quận trưởng Quảng Ðiền. Nhiệm vụ của Th/T Ðính lúc đó là vừa đáng giặc, vừa bình định. Về phần Huế, dù có chọn lựa để được thuyên chuyển một đơn vị không tác chiến, để hưởng thụ một đời sống gia đình (vừa mới lấy vợ), anh xin đổi về một đơn tác chiến: đại đội Hắc Báo. Về làm Đại đội phó Hắc Báo được chừng hai tháng thì Tướng Trưởng bổ nhiệm Huế làm Đại đội trưởng, thay vào chổ của Ðính. Một lần nữa, Huế và Ðính lại làm việc chung cho một ông thầy, cùng ở chung một sư đoàn. Sự liên hệ, quen biết liên tục đó làm tăng thêm ngỡ ngàng về sau, sau khi hai người trở thành kẻ thù — dù kẻ thù trong yên lặng.&lt;br /&gt;Trong hai năm 1968 và 1969, phục vụ ở Sư Ðoàn 1BB, đường binh nghiệp của Tr/T Ðính và Th/T Huế được thăng hoa. Hai đơn vị của Huế và Ðính có công tiếp cứu bộ tư lệnh sư đoàn 1 BB của Tướng Trưởng, và một phần nào đó, có công giải tỏa thành nội và dựng lại lá cờ VNCH ở kỳ đài Ðại Nội vào trận Mậu Thân 1968. Dựa vào những gì hai nhân vật chánh trong tác phẩm kể lại, TÐ2/ 3 của Ðính là đơn vị triệt tiêu những điểm kháng cự cuối cùng của cộng sản ở kỳ đài; và đại đội Hắc Báo là đơn vị bảo vệ bộ tư lệnh Sư Ðoàn 1 BB trong giờ phút kịch liệt nhất của trận Mậu Thân. Cũng trong trận này, liên hệ của hai người gắn chặc nhau hơn khi tiểu đoàn 2/3 và đại đội Hắc Báo cùng được giao nhiệm vụ chung là giải tỏa một góc chiến trường của thành nội Huế.&lt;br /&gt;Năm 1969. Trần Ngọc Huế bây giờ mang Thiếu tá, rời đại đội Hắc Báo về coi tiểu đoàn 2/2; trong khi đó Ðính đã là Trung tá, vẫn còn coi tiểu đoàn 2/3. Năm 1969 tiểu đoàn của Tr/T Ðính liên quan đến một trận đánh mãnh liệt, nhưng không được bao nhiêu báo chí nhắc đến: Trận Ðộng Ấp Bia — mà báo chí và các quân nhân tham dự đặt cho một tên rất biểu tượng là Ðồi Hamburger Hill (Thịt Bằm). Theo báo chí và phần lớn sách sử về chiến tranh Việt Nam, trận Hamburger Hill kết thúc khi lính của một trong ba tiểu đoàn Nhảy Dù Mỹ — sau hơn 10 ngày giao chiến ác liệt — triệt tiêu những lô cốt cuối cùng của trung đoàn 29 CSBV trên đỉnh đồi cao 937 thước và làm làm chủ ngọn đồi. Nhưng theo tác giả Wiest, và theo một số sử liệu chúng ta có thể tìm được, thì tiểu đoàn 2/ trung đoàn 3 của Trung tá Ðính là đơn vị lên được đỉnh đồi trước nhất. Trận đánh này, lúc khởi đầu, chỉ có một tiểu đoàn Nhảy Dù Mỹ phục trách, nhưng sau hơn một tuần quần thảo, bộ tư lệnh Sư Ðoàn 101 Nhảy Dù quyết định lấy ngọn đồi bằng mọi giá. Tướng Trưởng, trong tinh thần hợp tác Việt-Mỹ, gởi tiểu đoàn 2/3 của Trung tá Ðính để phụ lực vào cuộc tấn công cuối cùng. Bốn tiểu đoàn đánh bốn hướng từ chân đồi lên, và lính của tiểu đoàn 2/3 có mặt trên cao điểm của đỉnh đồi trước nhất. Trong tác phẩm, tác giả Wiest trích lời của Đại tướng Abrams trong buổi họp tham mưu ở MACV ngày 24 tháng 5-1969. Tướng Abrams nói tuy các cơ quan truyền thông nói là lính Nhảy Dù Mỹ chiếm được ngọn đồi, nhưng ông có tin riêng nói lính VNCH là đơn vị được vinh dự đó (Tác giả Wiest trích lời của Abrams trong The Abrams Tapes của tác giả Lewis Sorley. Cũng trong buổi họp đó, Tướng Abrams có nhắc lại chuyện đại đội Hắc Báo và trận đánh chung quanh kỳ đài thành nội Huế năm 1968). Ðiều đáng tiếc, tác giả Wiest kết luận, là đơn vị VNCH không được tuyên dương như sự thật đã xảy ra.&lt;br /&gt;Sau trận Hamburger Hill Tr/T Ðính về làm sĩ quan hành quân cho bộ tư lệnh Sư Ðoàn 1BB Tiền Phương (Ðây là một đơn vị gồm trung đoàn 2/ SÐ1BB và một lữ đoàn TQLC VNCH, được lập ra để trám vào chổ của những đơn vị TQLC Mỹ rút đi trong chương trình Việt Nam Hóa. Ðơn vị này nằm dưới quyền chỉ huy của Đại tá Vũ Văn Giai, Tư lệnh phó sư đoàn). Thiếu tá Huế thì vẫn coi tiểu đoàn 2, trung đoàn 2, đóng quân sát vùng giới tuyến. Là một đơn vị nằm dưới quyền điều khiển của SÐ 1 BB Tiền Phương, con đường binh nghiệp của Huế và Ðính lại gặp nhau. Tháng 5-1970, Tướng Trưởng yêu cầu Đại tá Giai đưa Trung tá Ðính về trung đoàn 54/ SÐ1BB với chức vụ trung đoàn phó. Trong khi đó Huế và tiểu đoàn 2/2 vẫn hoạt động ở hướng bắc Ðông Hà.&lt;br /&gt;Ở chương 4 của tác phẩm, chương nói về thành tích của Huế và Ðính trong năm 1968, tác giả Andrew Wiest đặt tên là, "Thời của Những Người Hùng." &lt;br /&gt; &lt;br /&gt;Chương 4 ghi lại một số dữ kiện để đưa độc giả đến hai chương nồng cốt 8 và 9, làm tiền đề cho quyển sách: anh hùng và bội phản. Chương 8 "Shattered Lives and Broken Dreams: Operation Lam Son 719," nói về giấc mơ chiến thắng của Huế bị tan vỡ— và những mảnh vụng của cuộc đời theo sau đó. Và chương 9, "The Making of a Traitor," nói về sự phản bội của Trung tá Ðính khi ông đầu hàng cộng sản vào năm 1972 trong trận Mùa Hè Ðỏ Lửa. Ở chương này, tác giả Wiest đã cố gắng giải thích những sự kiện và hoàn cảnh chung quanh quyết định đầu hàng của Tr/T Ðính.&lt;br /&gt;Giấc mơ chiến thắng của Thiếu tá Trần Ngọc Huế tan vỡ vào mùa Xuân năm 1971 ở Hạ Lào. Ðầu tháng 2-1971, khi cuộc hành quân Lam Sơn 719 đánh qua những căn cứ hậu cần của CSBV trên đường xâm nhập Hồ Chí Minh xảy ra, đơn vị của Th/T Huế vẫn còn hoạt động ở vùng phi quân sự, và trung đoàn 54 của Tr/T Ðính vẫn lo an ninh ở phía nam cố đô Huế. Mặc dù Sư Ðoàn 1BB là một trong ba lực lượng chính của cuộc hành quân, trong thời gian đầu BTL Sư Ðoàn 1BB chỉ xử dụng hai trung đoàn. Nhưng đến cuối tháng 2, tình hình thay đổi bất lợi ở mặt trận Hạ Lào. Sau cuộc hội thảo với Tổng thống Thiệu ở Sài Gòn ngày 28 tháng 2, Tướng Hoàng Xuân Lãm quyết định thay Sư Ðoàn Nhảy Dù bằng Sư Ðoàn 1BB, làm đơn vị chính đánh vào Tchepone. Ngày 2 tháng 3 đơn vị của Huế, TÐ 2/2; TÐ 3/2; và một ban tiền trạm của trung đoàn 4 được trục thăng vận đến Khe Sanh để chuẩn bị nhảy vào Tchepone. Sau khi các tiểu đoàn của trung đoàn 1 liên tiếp thiết lập các cứ điểm dây chuyền Lolo, Liz và Sophia ở hướng nam dẫn về Tchepone để chuẩn bị cho mục tiêu chánh. Ngày 6 tháng 3, TÐ 2 và 3 của trung đoàn 2 nhảy vào Tchepone theo đúng lịch trình của kế hoạch. Hơn 120 trực thăng đưa hai tiểu đoàn 2/2 và 3/2 vào cứ điểm — một bãi đáp trực thăng — có tên là Hope ở hướng bắc của Tchepone. Chỉ gặp một vài kháng cự nhỏ sau khi đổ quân, tiểu đoàn của 2/2 của Th/T Huế bung ra lục soát và tiến vào Tchepone. Ðến ngày 8, tiểu đoàn 2/2 báo cáo họ đã nằm bên trong thị trấn. Sau hai ngày lục soát, thay vì hai tiểu đoàn sẽ được trực thăng vận ra khỏi Tchepone như kế hoạch nguyên thủy, Tướng Lãm ra lệnh cho tiểu đoàn của Huế tiến sâu về phía nam, vượt qua sông Xe Pone, rồi hành quân lục soát về hướng các cứ điểm Sophia, Liz, và LoLo. Tại đây họ sẽ nhập chung với quân của trung đoàn 1, rồi cả hai trung đoàn sẽ được trực thăng vận về khu vục đường 914 ở để phá hủy binh trạm 33. Sau khi hành quân ở đó từ bảy đến mười ngày, Sư Ðoàn 1 BB sẽ theo thứ tự rút về biên giới Việt Nam. Tại sao lại có sự thay đổi trái ngược như vậy? Tại sao không "nhảy vào Tchepone ... đái một cái rồi nhảy ra …" như những gì báo chí đã viết về mục đích của cuộc đột kích vào Tchepone như chúng ta thường đọc qua? Theo tác giả Wiest, phấn khởi vì những chống trả yếu ớt của địch ở chung quanh Tchepone, Tướng Lãm quyết định kéo dài nhiệm vụ của trung đoàn 1 và 2 thêm 10 ngày nữa. Ðây không phải là ý kiến riêng của Tướng Lãm. Những tài liệu giải mật sau này cho thấy, ba ngày sau khi quân VNCH đặt chân xuống Tchepone, Tướng lãm bay về Sài Gòn họp với tổng thống Thiệu và Đại tướng Cao Văn Viên. Trong buổi họp ngày 9 tháng 3, Tổng thống Thiệu muốn TQLC và Sư Ðoàn 1BB bỏ ra bảy đến 10 ngày hành quân ở khu vực đường 914/ binh trạm 33, một vị trí khoảng chín cây số tây nam căn cứ Bản Ðông/ A Loui trên đường 9 (Ðiện văn, Top Secret MAC 02455 Eyes Only, Đại tướng Abarms gởi Trung tướng Sutherland, 9 March 1971; điện văn, Top Secret QTR 0306 Eyes Only, Trung tướng Sutherland gởi Đại tướng Abarms, 10 March 1971).&lt;br /&gt;Ngày 11, từ bải đáp Liz, tiểu đoàn 2/2 của Huế được trực thăng vận đến bải đáp Brown ở khu vực đường 914. Tại đây tiểu đoàn lục soát về phía nam cho đến ngày 14. Nhưng ngày 14 tháng 3 cũng là ngày địch quân đồng loạt phản công trên mọi hướng. Ðến hôm đó, CSBV đã tụ đủ quân để tấn công liên tục vào tất cả căn cứ hỏa lực hay bãi đáp ở phía nam đường 9. Ở phía nam đường 9 — mặt trận của Sư Ðoàn 1 BB và Lữ Ðoàn 147 TQLC — cộng quân có Sư Ðoàn 2 và 324B, cộng với hai binh trạm (một binh trạm tương đương một trung đoàn), một số quân hơn là đủ để ngăn chận mọi kế hoạch rút quân của VNCH. Từ sáu giờ sáng ngày 14, cứ điểm LoLo và chung quanh phía nam Tchepone, bốn tiểu đoàn của trung đoàn 1 bị CSBV tấn công liên tục. Ðến ngày 17 trung đoàn quyết định phải di tản. Tiểu đoàn 4/1 ở lại chận hậu cho ba tiểu đoàn kia được trực thăng vận khỏi mặt trận. Khi đến lượt TÐ 4/1 di tản, trung đoàn phải yêu cầu B-52 đánh bom cách vị trí tiểu đoàn chừng 500 mét (so với khoảng an toàn thông thường là 1.000-1.500 mét) để ngăn chận những đợt tấn công của cộng quân, hầu có thì giờ lên trực thăng. Nhưng tiểu đoàn chỉ có 83 quân nhân thoát khỏi LoLo; tiểu đoàn phó và tiễu đoàn trưởng thì ở lại LoLo vĩnh viễn. Cùng ngày, ở khu vực đường 914, bốn tiểu đoàn của trung đoàn 2 cũng chuẩn bị rời mặt trận. Ngày 18, TÐ 5/2 được bốc về Khe Sanh trước, trong khi ba tiểu đoàn 2, 3, và 4 được lệnh di chuyển theo hướng đông về cứ điểm Delta I để tiếp tục được di tản. Trên đường về Delta I, ba tiểu đoàn chạm địch liên tục. Khi biết không thể tiến về điểm hẹn ở Delta I, Huế cho tiểu đoàn nằm lại tại một cao điểm và dàn quân ra chuẩn bị tử thủ. Tối đêm 19, cộng quân tấn công bằng pháo và hỏa tiễn trước, tiếp theo đó là quân bộ binh có trang bị súng phun lữa ồ ạt xung phong. Trưa ngày 20, trung đoàn xin bộ tư lệnh tiền phương ở Khe Sanh, bằng mọi cách phải cho trực thăng phải hạ cánh di tản ba tiểu đoàn còn lại trước khi họ bị tiêu diệt. Nhưng với gần 1,400 phi vụ trực thăng võ trang; 11 phi vụ B-52; và 270 phi vụ oanh tạc chiến thuật trong ngày, hỏa lực đó chỉ đủ giảm áp lực của địch đủ để trực thăng đáp xuống bốc được tiểu đoàn 3. Tiểu đoàn 2 và 4 phải chờ những phi vụ di tản ngày hôm sau. Nhưng ngày ngày hôm sau là một ngày quá trễ cho Huế và những quân nhân còn lại. Trong cao điểm của những cuộc tấn công đêm đó, Huế bị trúng đạn súng cối và ngất lịm. Trong lúc loa phóng thanh của địch vang dội những lời kêu gọi đầu hàng, bộ chỉ huy sư đoàn ra lệnh cho tiểu đoàn 2/2 phải đánh mở đường máu để di tản. Khi lính của Huế chuẩn bị đến khiêng ông đi, T/T Huế từ chối, biết rằng mình sẽ là một gánh nặng cho toán quân rút đi. Huế ra lệnh cho họ đánh mở đường máu rời mặt trận. Tiểu đoàn phó Nguyễn Hữu Cước chào vĩnh biệt Huế trước khi dẩn toán quân 60 người còn lại đánh mở đường máu rút quân. Vài phút sau, Huế trở thành một trong những tù binh cao cấp bị bắt tại mặt trận Hạ Lào. (Theo lời Th/T Huế kể lại, sau khi thành công nhảy vào Tchepone, ông được đặc cách vinh thăng Trung tá. Chuẩn tướng Phạm Văn Phú trực tiếp chuyển tin đó dến ông. Sau khi bi bắt làm tù binh, Th/T Huế khai chức vụ ông là Thiếu tá. Nhưng sĩ quan thẩm vấn của CSBV nói ông đã là Trung tá, theo những gì họ nghe được trên hệ thống truyền tin của loan truyền ngoài mặt trận của VNCH) &lt;br /&gt;Ở bên kia biên giới, Tr/T Ðính theo dõi tất cả diễn biến. Trong những ngày cuối cùng của hành quân Lam Sơn 719, Ðính đưa tiểu đoàn 2 của trung đoàn 54 đến Khe Sanh để yểm trợ và đóng cửa căn cứ Khe Sanh. Nhìn những chiến tích — và chiến bại — của Lam Sơn 719, Ðính suy nghĩ nhiều về một cuộc chiến không tương lai, và thân phận của những quân nhân trong cuộc chiến. Cảm nghĩ đó, tác giả Wiest thuật lại theo những gì Tr./T Ðính kể.&lt;br /&gt;Trong chương 9, "The Making of A Traitor," tác giả Wiest viết sơ qua về cuộc tổng tấn công của CSBV vào mùa Hè năm 1972, nhưng tác giả viết sâu hơn khi nói về hoàn cảnh chung quanh việc Tr./T Ðính đầu hàng. Dựa vào những cuộc phỏng vấn với các cố vấn của trung đoàn và sư đoàn có mặt tại chiến trường; dựa vào các nhân vật — những sĩ quan trong ban tham mưu của trung đoàn 56/SÐ 3BB — còn sống, như Chuẩn tướng Vũ Văn Giai, Trung tá Trung đoàn phó Vĩnh Phong; Đại úy Nguyễn đình Nhu, trung đoàn 56; Trung úy Mai Xuân Tiểm, ban 3 trung đoàn; Thiếu tá Tôn Thất Mãn, tiểu đoàn trưởng TÐ 1/56. ... Với những lời kể của nhân chứng, Andrew Wiest viết lại hoàn cảnh đưa đến quyết định đầu hàng tập thể của trung đoàn 56 tại căn cứ Carroll. Nhưng những gì Tr./T Ðính thuật lại sau cuộc chiến có phải là những lý do để chạy tội? Ðính và hơn 600 quân nhân của trung đoàn 56/ SÐ3BB phải đầu hàng vì không còn lối thoát, vì bị bỏ rơi, hay chính Tr./T Ðính là người đã vẽ cho họ một bức tranh bi đát, rồi thuyết phục họ đầu hàng? Mỗi độïc giả sẽ là một chánh án đối với Tr./T Ðính, sau khi thẩm định sự kiện và hoàn cảnh được trình bày trong sách. Người điểm sách này xin nói trước: trước khi đọc tác phẩm Vietnam's Forgotten Army, người viết đã có một định kiến về hành động đầu hàng của Tr./T Ðính: đó là hành động của một sĩ quan chủ bại, chưa đánh đã chạy. Và sau khi đọc tác phẩm, người viết vẫn không hoàn toàn đồng ý với lý do đầu hàng của ông Trung tá: Thông cảm? Có. Chấp nhận? Không!&lt;br /&gt;Gần nửa năm sau cuộc hành quân Lam Sơn 719, để gia tăng quân số thay vào khoảng trống của các đơn vị Mỹ rút quân, tháng 10-1971 bộ tổng tham mưu thành lập Sư Ðoàn 3 Bộ Binh. Sư đoàn tân lập này chỉ có một trung đoàn làm rường cột chánh, hai trung đoàn còn lại là lính thuyên chuyển từ các đơn vị khác, tân binh tuyển mộ từ các lực lượng Nghĩa Quân, Nhân Dân Tự Vệ, hay một đôi khi là những quân nhân tòng phạm được ân xá để trở lại quân ngũ. Trong ba trung đoàn 2, 56 và 57 của Sư Ðoàn 3BB, chỉ có trung đoàn 2 lấy ra từ Sư Ðoàn 1BB, là đơn vị có kinh nghiệm chiến trường lâu nhất. Với một sư đoàn như vậy, không vị sĩ quan nào muốn nhận chức sư đoàn trưởng. Sau cùng, chuẩn tướng Vũ Văn Giai nhận chức tư lệnh sư đoàn. Theo lời ông kể, ông là một "tư lệnh kém may mắn của một sư đoàn không không ai muốn nhận." Và khi tìm sĩ quan về chỉ huy trung đoàn, tướng Giai tìm những thuộc viên cũ đã làm việc chung với ông: Tr/T Ðính được mời về làm chỉ huy trưởng trung đoàn 56.&lt;br /&gt;Cuối năm 1971 đầu năm 1972, quân đội Hoa Kỳ đã rút khỏi Vùng I. Còn lại chỉ là những đơn vị tiếp vận và cố vấn. Hơn 80 ngàn lính TQLC Hoa Kỳ có mặt ở Vùng I vào giữa năm 1969, bây giờ chỉ còn khoảng 500. Ðể phòng thủ năm tỉnh của Vùng I, tướng Hoàng Xuân Lãm cho SÐ 1BB giữ phía tây thành phố Huế; SÐ 2BB giữ ba tỉnh ở phía nam; và sư đoàn yếu nhất, SÐ 3 BB, được giao nhiệm vụ trấn giữ hai hướng bắc và tây Quảng Trị. Trung đoàn 57 phụ trách bên phải quốc lộ 1, hướng bắc Cửa Việt; trung đoàn 2, bên trái quốc lộ 1, bắc Cam Lộ; và, trung đoàn 56, phía nam đường 9, gần những căn cứ Khe Gió, Carrol, Mai Lộc. Ðể yểm trợ và phụ giúp thêm cho SÐ 3BB, Vùng I cho hai lữ đoàn TQLC đóng ở những tiền đồn dọc theo vòng cung tây nam đường 9, gần biên giới Lào, như là vòng đai phòng thủ đầu tiên cho trung đoàn 56. Vì trung đoàn 56 còn mới, để tiếp tục huấn luyện các tiểu đoàn tân lập của Tr./Ð 56, và tránh tình trạng đóng quân ù lì một chổ, tướng Giai cho thay đổi vị trí của hai trung đoàn 2 và 56 theo chu kỳ: trung đoàn này đến vùng trách nhiệm của trung đoàn kia, và ngược lại. Ðó là lối bày binh và trận liệt ở Vùng I khi CSBV đồng loạt tấn công — và CSBV tấn công vào ngay thời điểm bất ngờ và nguy hiểm nhất.&lt;br /&gt;Chín giờ sáng ngày 30 tháng 3-1972 Tr./Ð 2 và 56 hoán chuyển trại và vùng trách nhiệm. Tr./Ð 56 của Ðính từ căn cứ C2 ở bắc Cam Lộ di chuyển về hướng nam, thay thế Tr/Ð 2 ở căn cứ Carroll, căn cứ hỏa lực Fuller và Khe Gió. Mười một giờ ba mươi, khi đoàn quân còn đang di chuyển, một số chưa kịp qua sông (sông Cam Lộ, trên đầu đường 9), chỉ có một đại đội tác chiến và đại đội chỉ huy vừa vào trong căn cứ Carroll thì địch quân tấn công. Pháo 130 ly của địch bắn tràn ngập các mục tiêu. Không phải chỉ có Tr./Ð 2 và 56 bị tấn công, tất cả các căn cứ trên toàn Quảng Trị bị tấn công. Ở hướng bắc SÐ 308 CSBV chia làm bốn mũi vược qua vĩ tuyến 17 đánh thẳng vào Tr./Ð 57; ở hướng tây từ biên giời Lào, SÐ 304 và một trung đoàn thiết giáp đánh vào các tiền đồn của lữ đoàn 147 TQLC ở Núi Ba Hô và Sarge. Ngày hôm đó, mặt trận bắc và tây bắc Quảng Trị hoàn toàn trong biển lửa: CSBV bắn 2.000 quả đạn chung quanh căn cứ Fuller, Khe Gió, Carroll trong tổng số 11.000 trái trong 24 tiếng đầu của chiến dịch.&lt;br /&gt;Với cuộc hoán chuyển vị trí đang diễn ra khi cộng sản tấn công, ba tiểu đoàn của Tr./Ð 56 chỉ có một phần bên trong những căn cứ đã được chỉ định. Hai tiểu đoàn 1/56 và 2/56 vẫn còn kẹt giữa đường và đang bị pháo của địch quân kèm lại một chổ; tiểu đoàn 3/56 ở Khe Gió và 1/2 (tiểu đoàn 1 của trung đoàn 2, chưa rời trại khi cộng quân tấn công) ở Fuller cũng không di chuyển được vì bị pháo. Bộ binh CSBV tấn công hai căn cứ suốt ngày 30. Trưa 31, Khe Gió và Fuller thất thủ. Lực lượng ở hai căn cứ này mở đường máu rút về hướng đông nam, về căn cứ Carroll. Với hệ thống truyền tin bị phá hủy, Ðính gần như hoàn toàn bất lực trong việc điều động các cánh quân đang phân tán. Không phải chỉ có trung đoàn 56 của Ðính là nằm trong hoàn cảnh ngặc nghèo: bên trái của căn cứ Carroll, ở hướng tây và tây nam, hai căn cứ hỏa lực Núi Ba Hô và Sarge — vòng đai bảo vệ của Carroll — sắp bị tràn ngập. Mười giờ rưởi đêm 31, tiểu đoàn 4 TQLC ở căn cứ hỏa lực Núi Ba Hô di tản. Khi Núi Ba Hồ di tản thì căn cứ Sarge ở phía nam cũng không thể giữ được. Bốn giờ sáng đêm đó, sau khi khẳng định được tình hình ở hướng bắc, bộ chỉ huy TÐ 4 TQLC ở Sarge cũng rút đi. Hai toán quân TQLC đều di tản về căn cứ Mai Lộc, ba cây số hướng nam căn cứ Carroll, nơi có bản doanh của lữ đoàn 147 TQLC. Bây giờ chỉ còn Carroll và Mai Lộc nằm trên hướng tiến quân của SÐ 304 về Quảng Trị.&lt;br /&gt;Ngày 31 tháng 3-1972 Tr./T Ðính liên lạc với Chuẩn tướng Vũ Văn Giai để xin tiếp viện. "Nếu không được tiếp viện, căn cứ chỉ có thể giữ được vài ngày nữa thôi." Ðính báo cáo với Tướng Giai. "Ráng chờ, sẽ có tiếp viện," Tướng Giai trả lời. Hôm sau, 1 tháng 4, Tướng Lãm đích thân gọi Ðính. Lạc quan vì nghĩ rằng mình sẽ có tin vui, nhưng Tướng Lãm chi ra lệnh vắn tắt, là Sư Ðoàn 3BB và Quân Ðoàn I không còn gì để tiếp viện. Trung đoàn 56 phải giữ căn cứ Carroll bằng mọi giá! Chỉ có vậy, chỉ có vậy từ người tư lệnh quân đoàn. Cùng ngày, những cánh quân di tản hay những cánh quân bị kẹt vì pháo kích lần lượt về được bên trong căn cứ Carroll, trong đó có cánh quân dưới quyền chỉ huy của Trung đoàn phó Vĩnh Phong. Tường trình của Trung tá Phong làm cho Ðính bi quan thêm: Sư Ðoàn 308 CSBV đang truy kích họ. Sự bi quan trở thành thất vọng khi tin tức qua hệ thống truyền tin cho biết hai trung đoàn 2 và 57 trên đường di tản về Ðông Hà; và bộ chỉ huy Sư Ðoàn 3 BB sẽ rời căn cứ Ái Tử về Quảng Trị để tránh tầm đại bác 130 ly của cộng quân từ bên kia sông Bến Hải bắn qua. Tối ngày 1 tháng 4, với tất cả quân di tản tụ về, căn cứ Carroll bay giờ có khoảng 1,500 tay súng trong vòng đai phòng thủ (có tường trình nói quân số bên trong căn cứ trước giờ đầu hàng là 1,800 quân).&lt;br /&gt;Ðọc đến đoạn này trong Vietnam's Forgotten Army, không ít đọc giả sẽ có chút thông cảm cho hoàn cảnh Trung tá Ðính, như tác giả Wiest ít nhiều đã có — theo sự nhận xét của người điểm sách. Chúng ta có thể thấy được sự lo sợ và hoang mang của Tr/T Ðính: Ðường tiếp viện toàn bị cắt đứt; đối diện với một lực lượng của địch lớn hơn ba đến bốn lần về nhân lực cũng như hỏa lực; và bộ chỉ huy hình như đã bỏ trung đoàn, hay sẽ dùng trung đoàn như một lực lượng tế thần để đình trệ đường tiến quân của đối phương. Trong ý nghĩ của Ðính, quân lệnh cuối cùng của Trung tướng Lãm có hàm ý như vậy.&lt;br /&gt;Nhưng nhìn lại địa hình và tình hình của mặt trận ở hướng tây và tây bắc Quảng Trị, quân lệnh của Tướng Giai và Tướng Lãm không phải không có ý nghĩa. Những căn cứ nhỏ như Núi Ba Hô, Sarge, C2, C3, hay Mai Lộc có thể di tản được vì đó là những căn cứ nhỏ, không có địa hình thuận lợi để phòng thủ. Nhưng căn cứ Carroll thì  hoàn toàn khác. Ðây là một căn cứ có thể cầm cự một hay là hai trung đoàn địch dể dàng.&lt;br /&gt;Tên chánh thức của căn cứ là Camp James J. Carroll. Tên căn cứ đến từ tên một đại úy TQLC Hoa Kỳ tử trận trong cuộc hành quân Prarie ở khu vực đó vào năm 1966. Trong cao điểm của cuộc chiến Việt Nam, căn cứ Carroll là căn cứ pháo binh quan trọng của TQLC Hoa Kỳ ở bắc đường 9. Từ căn cứ Carroll, đại bác 175 ly của Lục Quân và đại bác nòng 8 inches của TQLC bắn yểm trợ cho căn cứ Khe Sanh (cách đó 20 cây số về hướng tây nam) và thường xuyên đấu súng với những pháo đội 130 ly của CSBV ở bên kia sông bến Hải (20-22 cây số hướng bắc). Trước khi trao lại cho quân lực VNCH, căn cứ là nơi đóng quân của bốn tiểu đoàn pháo binh Hoa Kỳ (hai tiểu đoàn của trung đoàn 12 pháo binh TQLC; hai tiểu đoàn của liên đoàn 94 pháo binh Lục Quân). Căn cứ rộng đủ để chứa hơn 2,000 quân và một vòng đai phòng thủ qui mô. Ðịa hình của căn cứ rất lý tưởng để phòng thủ: Xây theo hình ngũ giác trên một ngọn đồi trống, quân phòng thủ bên trong Carroll có thể quan sát bốn hướng: địch quân không thể tấn công bằng bộ binh mà không bị phác giác từ xa 500-1,000 mét. Ðịch quân có thể pháo kích — như họ đang làm — nhưng tấn công bằng quân bộ bịnh thì lại là một chuyện khó khăn nếu quân trú phòng quyết định tử thủ. Ngày 1 tháng 4, như đã nói ở trên, căn cứ Carroll có 1,500-1,800 tay súng bên trong và một lực lượng pháo binh gồm 26 khẩu đại bác từ 105 cho đến 175 ly, với vài chiến xa hạng nhẹ có trang bị đại bác 40 ly (loại thiết giáp tương tự như M.41, gọi là "Duster," trang bị hai khẩu 40mm và một đại liên 30 trên pháo tháp). Nhìn từ quan điểm phòng ngự, lực lượng này có thể gây thiệt hại đáng kể cho mọi cuộc tấn công — hay ít nhất có thể cầm chân một lực không nhỏ của CSBV.&lt;br /&gt;Sáng Chủ Nhật ngày 2 tháng 4, vùng I được một phi tuần B-52 yểm trợ. Bom bỏ hướng tây bắc vòng đai bên ngoài của căn cứ. Liền sau cuộc dội bom, CSBV tấn công căn cứ từ ba hướng. Nhưng với địa hình kiên cố của căn cứ, CSBV bỏ cuộc sau vài tiếng tấn công biển người. Tác giả Wiest viết, cuộc tấn công biển người bị đẩy ngoài công sự một cách dể dàng bằng mìn và súng cá nhân. Cuộc tấn công bị coi thường đến độ vị trung tá cố vấn Mỹ đang có mặt bên trong căn cứ, trả lời với tiền sát viên không quân là ông chưa cần yểm trợ không lực trong lúc đó vì không có mục tiêu nào thích đáng (đọc, Trial By Fire: the 1972 Easter Offensive, Americas Last Vietnam Battle, của Dale Andradé). Sau cuộc tấn công vào buổi sáng, Ðính gọi về bộ tư lệnh sư đoàn xin yểm trợ. ) Trung tá Cương trả lời là ông không thể trả lời cho Ðính được; và Chuẩn tướng Giai thì đang ở Ðông Hà thị sát tình hình. (Người viết bài muốn chú một chi tiết về cuộc đối thoại giữa hai Trung tá Cương và Ðính: Một độc giả đã liên lạc với Trung tá Cương (sau khi đọc bài viết này lần đầu tiên). Trung tá Nguyễn Hữu Cương, nói ông không có nhận điện thoại, và cũng không có mặt ở bộ tư lệnh sư đoàn lúc đó. Ðó là lời xác nhận của Trung tá Cương. Trong sách, tác giả Wiest trích theo sách cuả Dale Andradé. Người viết ghi chú ở đây để cảm ơn sự bổ túc của độc giả). Chuẩn tướng Giai thì đang ở Ðông Hà thị sát tình hình. Cũng như lần nói chuyện trước, không ai có một câu trả lời rõ ràng về số phận của Trung Ðoàn 56. Hai giờ trưa, cộng quân tấn công lần thứ nhì: lần này địch tiến gần được hàng rào phòng thủ hơn lần trước, nhưng vẫn không làm được gì. Trong khi cuộc tấn công đang diễn ra, Ðính nghe trên hệ thống truyền tin một sĩ quan CSBV muốn nói chuyện với ông. Người trên hệ thống truyền tin nói ông ta đang quan sát mặt trận. Ông nói số phận của Ðính và quân lính dưới quyền đang nằm trong tình trạng nguy hiểm. Nếu Ðính và quân của trung đoàn đầu hàng thì họ sẽ được đón tiếp và bảo vệ an toàn. Nếu không tất cả sẽ bị tiêu diệt. Chưa đầy một tiếng sau, một tư lệnh mặt trận lên máy truyền tin nói chuyện với Ðính một lần nữa. Người tự nhận là tư lệnh mặt trận cho biết đây là lần đề nghị cuối cùng trước khi họ tấn công. Ðính yêu cầu CSBV ngưng bắn và cho thêm giờ để quyết định. Ba giờ trưa, Ðính tập hợp 13 sĩ quan chỉ huy của trung đoàn trong hầm chỉ huy để quyết định. Ðính mở lời trước, cho biết tình thế rất tuyệt vọng. Căn cứ không thể cầm cự trước sự tấn công liên tục của địch quân. Sau đó Ðính nói ra ý nghĩ thật của mình, là "Nếu tiếp tục chiến đấu, nhiều người sẽ chết. Và nếu chúng ta có bị thương, có chết, để có được một chiến thắng, thì cũng không ai lo cho chúng ta sau đó. Chúng ta bây giờ phải tự lo lấy thân." Tiếp theo Ðính nói về đề nghị của địch. Sau đó ông hỏi tất cả muốn tử thủ, đánh mở đường máu, hay đầu hàng? Nếu tất cả các sĩ quan có mặt đồng ý tiếp tục đánh thì ông sẽ nghe chiều theo ý họ. Trong số sĩ quan hiện diện, chĩ có Thiếu tá Tôn Thất Mãn (khóa 12 Thủ Ðức, TÐT 1/56) lên tiến đòi đánh đến cùng. Số sĩ quan còn lại yên lặng không ý kiến. Trước sự yên lặng của các sĩ quan, Ðính nói về gia đình của họ … về viễn ảnh những vui mừng khi họ được sống sót trở về. Sau đó — theo tác giả Wiest viết — họ bỏ phiếu để quyết định: tất cả đều đồng ý đầu hàng, chỉ có Thiếu tá Tôn Thất Mãn không bỏ phiếu. Với quyết định đã được đồng thuận, Ðính đi qua lô cốt của hai sĩ quan cố vấn Mỹ để thông báo. Nhưng Thiếu tá Joseph Brown và Trung tá William Camper không đồng ý. Camper đề nghị trung đoàn dùng những chiếc thiết giáp có trong căn cứ đánh bung ra vòng đai mở đường máu. Ðính không chịu, nói vô ích. "Tôi muốn giết ông Trung tá [Ðính] ngay tại chổ", Trung tá Camper kể lại sự tức giận của ông khi Ðính nằng nặc đòi đầu hàng. Sau khi nói với Trung tá Ðính là nếu ông ta đầu hàng thì trách nhiệm của hai người cố vấn đã hết. Camper gọi về trung tâm hành quân của Sư Ðoàn 3BB cho biết "nhiệm vụ của ông ta không còn cần ở căn cứ Carroll nữa, và xin được di tản." May mắn, một trực thăng C-47 trên đường tiếp tế đạn cho căn cứ Mai Lộc bay ngang qua đó, ghé lại bốc hai sĩ quan Hoa Kỳ và 30 người lính không chịu đầu hàng và muốn đi theo hai sĩ quan Mỹ. Khi chiếc trực thăng cất cánh thì cờ đầu hàng đã bay trên căn cứ Carroll. Trung tá Ðính dẫn toán quân 600 người ra khỏi trại đi đến điểm hẹn với địch. Bên trong, số quân không chịu đầu hàng còn lại rút đi về hướng đông. Trong nhóm quân không chịu theo Tr./T Ðính là Pháo Ðội B của TÐ 1 Pháo Binh TQLC. Ðây là pháo binh đi kèm TÐ 4 TQLC, họ đóng nhờ trong căn cứ Carroll. Theo tường trình của cố vấn Mỹ sau này, Pháo Ðội B hạ nòng đại bác xuống bắn thẳng cho đến khi bị tràn ngập. Tất cả toán quân rút đi, về đến phòng tuyến VNCH được khoảng 1,000 người, trong đó có một tiểu đoàn còn nguyên vẹn. Tối đêm đó Ðính và 600 quân đến một địa điểm gần căn cứ Khe Gió. Ở đây một sĩ quan CSBV ra đón họ. Ngày hôm sau, 3 tháng 4, Ðính lên lên đài phát thanh CSBV đọc lời kêu gọi quân nhân VNCH đầu hàng như ông đã làm.&lt;br /&gt;Thiếu tá Huế bị đưa về bắc được hơn một năm thì Trung tá Ðính cũng được CSBV đem ra bắc để tiếp tục thực hiện kế hoạch tuyên truyền của họ. CSBV đề nghị Ðính gia nhập quân đội CSBV thì sẽ được phục hồi chức vụ Trung tá trong quân đội của họ. Ðính đồng ý. Ðính làm như vậy chỉ để — theo lời Ðính kể — giúp đỡ 600 quân nhân đầu hàng bị đưa về miền bắc. Những quân nhân này đang phục vụ công tác lao động ở các đơn vị hậu cần CSBV. Trở thành một sĩ quan cộng sản, Ðính có lương và nhà ở, và làm việc như một sĩ quan văn phòng ở Hà Nội. Sau này, sau khi VNCH thất thủ, Ðính đã phục vụ trong công tác tuyên truyền cho CSBV. Một trong những công tác là làm giảng viên ở những trại tập trung quân đội VNCH.&lt;br /&gt;Về phần Huế, sau sáu tháng bị nhốt ở Hỏa Lò, ông bị đưa về trại tù Sơn Tây. Trong thời gian ở Sơn Tây, CSBV đưa Ðính và Trung tá Vĩnh Phong vào nói chuyện với một số tù binh. Trong buổi gặp mặt đó, bên phía tù binh VNCH ngoài Huế còn có Đại tá Nguyễn Văn Thọ và Thiếu tá Trần Văn Ðức của lữ đoàn 3 Nhảy Dù. Trong lần nói chuyện đĩ phía bên kia không thẳng lời chiêu dụ Huế và hai sĩ quan Nhảy Dù. Nhưng họ có hàm ý là nếu ba người sĩ quan đầu hàng thì sẽ có được một đời sống thoãi mái hơn là đời sống của tù binh. Sau đó, Huế và một số sĩ quan được đưa về Hà Nội để chiêu dụ thêm một lần nữa. Nhưng một lần nữa Huế từ chối không theo về bên kia. Hai năm sau, cuộc đời của Thiếu tá Huế bị thêm một "tai nạn" nữa. Sau khi Hiệp Ðịnh Paris 1973 được ký kết: Là một tù binh, tên của ông được nằm trong bản trao trả tù binh chính thức. Nhưng chỉ vài giờ trước khi được giao trả về miền nam, CSBV giữ ông lại. Vì ông bị bắt ở Hạ Lào, nên nói "một cách kỹ thuật," ông là tù binh của Pathet Lào! Huế bị giam đến năm 1983 mới được trả tự do. Theo lời kể của Huế, trước khi gia đình ông được phép rời Việt Nam sang Mỹ, Tr./T Ðính có tìm vào Sài Gòn gặp Huế. Ðính muốn khi Huế đến Mỹ và khi gặp lại những sĩ quan cố vấn, nên giải thích hoàn cảnh đã làm cho ông phải đầu hàng —Những hoàn cảnh mà Th/T Huế cho là không chính đáng để đầu hàng.&lt;br /&gt;Tài liệu căn bản của Vietnam's Forgotten Army: Heroism and Betrayal in the ARVN đến từ phỏng vấn những nhân vật có liên quan đến sự kiện. Sử liệu trong tác phẩm không quan trọng hay mới lạ trên quan điểm sử học. Nhưng đó là sự lôi kéo của tác phẩm: tác giả tạo được một tác phẩm lý thú dựa trên những gì rất ít ông đã tìm được. Andrew Wiest là giáo sư sử học tại đại học Southern Mississippi. Ông đã có một thời gian giảng dạy tại trường Cao Ðẳng Không Quân (Air War College), nơi đào tạo sĩ quan cấp tướng tương lai cho Không Quân Hoa Kỳ. Vietnam's Forgotten Army là tác phẩm thứ ba về chiến tranh Việt Nam của tác giả..&lt;/strong&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/4274400117116119553-6059402670622952048?l=anhhungvaphanboi.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://anhhungvaphanboi.blogspot.com/feeds/6059402670622952048/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=4274400117116119553&amp;postID=6059402670622952048' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/4274400117116119553/posts/default/6059402670622952048'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/4274400117116119553/posts/default/6059402670622952048'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://anhhungvaphanboi.blogspot.com/2008/07/anh-hung-va-phan-boi.html' title='Anh Hung Va Phan Boi'/><author><name>Nha Kỹ Thuật</name><uri>http://www.blogger.com/profile/00058869536112748808</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='26' height='32' src='http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SKrYhjfyioI/AAAAAAAAC0w/Z-Pv_vtrYCM/S220/phamhoasize07.jpg'/></author><media:thumbnail xmlns:media='http://search.yahoo.com/mrss/' url='http://3.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SJI20ZpFeEI/AAAAAAAACto/lgcukBObXUY/s72-c/GanHuyChuongHueandDinh.JPG' height='72' width='72'/><thr:total>0</thr:total></entry></feed>
