Tuesday, August 18, 2009

Anh Hùng và bội phản


Chuyện Trò Cùng Ðồng Ðội:

Anh hùng và bội phản

Monday, April 07, 2008
Huy Phương

Trước tháng 4 năm 1972, Trung Tá Trần Ngọc Huế và Trung Tá Phạm văn Ðính đều là hai anh hùng của Quân Lực VNCH, cả hai đều đã từng chỉ huy đơn vị tinh nhuệ của SÐ IBB là Ðại Ðội Hắc Báo. Năm 1971, Trung Tá Trần Ngọc Huế là Tiểu Ðoàn Trưởng TÐ 2/2 đánh vào Shépone trong cuộc hành quân Lam Sơn 719.
Vị trí của ông đã bị cộng sản tràn ngập và ông bị bắt làm tù binh và bị đưa ra Bắc và ở trong nhà tù 13 năm. Kẻ bội phản là cựu Trung Tá Phạm Văn Ðính, Trung Ðoàn Trưởng Trung Ðoàn 56 (Sư Ðoàn 3BB) tại căn cứ Tân Lâm (Carrol), cuối tháng 4, 1972 đã đầu hàng trước quân đội, không những chỉ đầu hàng mà Trung Tá Ðính đã theo giặc, vì sau đó ông đã lên đài phát thanh Hà Nội kêu gọi các chiến hữu ngày trước của ông buông súng theo “cách mạng” và đeo “quân hàm” trung tá của “Quân Ðội Nhân Dân”.
Ông “được” cộng sản cho làm “quản giáo” tại một trại tù (học tập cải tạo) đang giam giữ những chiến hữu của ông ngày trước.

Sau tháng 4, 1975, ông “Trung Tá” Phạm Văn Ðính vào miền Nam, nhưng sau đó không nghe nói ông nắm đơn vị nào trong quân đội Bắc Việt. Tôi nghĩ dù ngày nay miền Nam đã bị cộng sản thôn tính, dân chúng Huế-Thừa Thiên cũng như người miền Nam đã nhìn ông với đôi mắt ghẻ lạnh, cho đến khi ông qua đời, không biết ông có ngượng ngùng với cái cấp bậc trung tá ông đeo trên cổ áo hay không.
Sau năm 1975, tôi nghe những người cộng sản gọi những nhân vật trong hàng ngũ “chiêu hồi” là những kẻ “đầu hàng phản bội”, không biết họ dùng danh từ gì để gọi ông Trung Tá Phạm Văn Ðính.

Andrew Wiest là một giáo sư sử học tại Ðại Học Southern Mississippi, tác giả nhiều cuốn sách về chiến tranh, trong đó đã có hai cuốn viết về Việt Nam như “The Vietnam War, 1956-1975” (2002), “Rolling Thunder in a Gentle Land: The Vietnam War Revisited” (2006). Năm nay (2008), ông vừa xuất bản một cuốn sách nhan đề “Vietnam's Forgotten Army- Heroisme anh Betrayal in the ARVN” để nói đến hai nhân vật Trần Ngọc Huế và Phạm Văn Ðính.
Thoạt đầu người ta giới thiệu Trung Tá Phạm Văn Ðính với ông, cuộc đời của một sĩ quan xuất sắc của VNCH trở thành một kẻ bỏ súng chạy theo địch quân là một đề tài khá hấp dẫn để trở thành một cuốn sách hay về chiến tranh Việt Nam. Giáo Sư Andrew Wiest đã mời ông Phạm Văn Ðính sang New Orleans Hoa Kỳ và tổ chức các buổi nói chuyện tại các đại học Hoa Kỳ về đề tài chiến tranh Việt Nam, tuy nhiên ông đã được sự góp ý của nhiều giới chức Hoa Kỳ hủy bỏ dự định này. Các sĩ quan cao cấp Hoa Kỳ hiện nay đã từng là cố vấn trong các đơn vị mà ông Phạm Văn Ðính phục vụ trước kia, đã giới thiệu đến tác giả Andrew Wiest, Trung Tá Trần Ngọc Huế, đã xuất thân từ những đơn vị tương tự như ông Ðính, nhưng đã xứng đáng hơn với danh vị anh hùng.
Cuốn sách được hoàn tất với cuộc đời của hai Trung Tá Trần Ngọc Huế và Phạm Văn Ðính với những chiến trận lớn tại Vùng I Chiến Thuật mà cả hai đều đã đổ máu cho miền Nam nhưng về sau quyết định của hai người đã đưa họ về những lối rẽ khác nhau.

Ở trong trại tù tập trung của cộng sản dựng lên đầy dẫy ở hai miền Nam Bắc sau tháng 4 năm 1975, các chiến hữu ngày trước của chúng ta cũng đã có rất nhiều anh hùng nhưng không thiếu kẻ bội phản.
Những anh hùng của chúng ta đã đứng thẳng trước kẻ thù, có người đã chấp nhận gông cùm và đã có người hiên ngang trước cái chết. Trong khi đó có những người gọi là bạn tù của chúng ta đã cam tâm chịu sự sai khiến của bọn cai tù, nhận những chức vụ “tay sai” để hành hạ, đánh đập anh em không thương tiếc, hoặc hèn hạ làm những tên chỉ điểm, mà chúng ta thường gọi chúng là “ăng ten”. Ra hải ngoại, những người cựu tù nhân chính trị cũng đã nhận định rõ, ai là anh hùng mà ai là những kẻ đầu hàng phản bội trong các nhà tù cộng sản trước đây, chỉ tiếc là những những người này cũng cùng đi một chuyến tàu với chúng ta đến đây, lẫn lộn trong cộng đồng này.
Tuy đã tha thứ nhưng thực là chúng ta không bao giờ quên những khuôn mặt này, và hy vọng họ sẽ thức tỉnh và biết thế nào là và sự khinh rẻ của đồng đội hay đồng bào dành cho những hành vị bội phản, nhất là trong bối cảnh của cộng đồng tỵ nạn cộng sản hiện nay đang manh nha những thái độ đầu hàng hay thỏa hiệp đáng khinh miệt.

1 comment:

Minh Phương said...

Hãy đọc đoạn trích dẫn sau đây trong cuốn hồi ký "Chỉ một con đường" của trung tướng CSVN Nguyễn Huy Chương, để xem trung tá Huế anh hùng như thế nào:

"Trong khi đó, mũi 2 của địch đột kích vùng giải phóng Quế Sơn, 1 đại đội của chúng đánh chiếm lại Hòn Chiêng và 2 đại đội khác tăng cường cho căn cứ Cấm Dơi. Mũi 3 của địch, gồm 1 tiểu đoàn do tên trung tá Huế chỉ huy (Tên này bị ta bắt sống trong chiến dịch đường 9 - Nam Lào năm 1971 và được ta phóng thích đầu năm 1972 vì đã thành khẩn khai báo và hứa nếu được trả tự do thì sẽ không tiếp tục tham gia chiến đấu trong quân đội ngụy), đã bí mật luồn sâu bao vây quân ta và gọi pháo bắn cấp tập vào Châu Sa, trận địa do đại đội công binh của sư đoàn 711 chốt giữ và chiếm lại Châu Sơn.
Giao ban sư đoàn sáng 29/01/1973, trưởng ban trinh sát sư đoàn báo cáo việc tên trung tá Huế xin đổi đất và đọc nguyên bức điện của tên Huế mà quân báo ta đã thu được trên tần số đài PRC 25: “Châu Sơn gọi Đại Bàng, Châu Sơn gọi Đại Bàng. Chúng tôi đã chiếm được Hòn Chiêng và Châu Sơn, hiện bị Việt cộng bao vây 4 phía. Đường xuống Việt An bị cắt, đường 16 cụt, qua Cấm Dơi đi không được. Khi đánh chiếm Châu Sơn có 20 con đi xa, 80 con đi gần phải ẵm theo nặng lắm. Tình thế khó khăn, tiến lui bất tiện. Đại Bàng cho tôi liên hệ đổi đất với Việt cộng - Trung tá Huế”.

Nghe xong, sư đoàn trưởng Nguyễn Chơn hạ lệnh cho trưởng ban quân báo bật điện đài để nói chuyện trực tiếp với trung tá Huế trên PRC 25, và tự tay anh bật công tắc để cho trưởng ban quân báo nói chuyện. Trưởng ban quân báo sư đoàn nói: “Trung tá Huế nghe đây, chúng tôi biết các ông đang cõng trên mình 80 lính bị thương và 20 lính tử trận, nặng lắm phải không? Hiệp định Pari đã có hiệu lực, các ông chiếm đất của Mặt trận giải phóng thì phải trả lại. Hiện nay, các ông đang bị quân giải phóng bao vây bốn phía. Tôi cho thời hạn đến 12 giờ trưa nay, các ông phải rút quân khỏi vùng đất mà các ông vừa chiếm đóng, nếu các ông không thực hiện, tôi sẽ cho cối 160mm, 120mm, pháo 130mm và các loại hỏa lực khác bắn vào điểm cao Châu Sơn, nơi các ông đang chiếm đóng trái phép. Nếu máy bay các ông đến, chúng tôi sẽ lệnh cho các loại hỏa tiễn SA7, AT3, cao xạ 57mm và 37mm bắn rụng hết”. Trưởng ban quân báo sư đoàn vừa dứt lời, lập tức tên trung tá Huế lên giọng: “Các ngài đánh là vi phạm Hiệp định”.

Tiếng của Trưởng ban quân báo trả lời tên trung tá Huế: “Các ông lấn chiếm vùng giải phóng là vi phạm Hiệp định. Chúng tôi có quyền đánh trả”.

Lời nói đanh thép của Trưởng ban quân báo sư đoàn đã tác động lên tinh thần hoang mang của tên trung tá ngụy. Hắn nói: “Các ngài cho tôi xin phép cấp trên của tôi rồi tôi trả lời ngay”.

Thời hạn 12 giờ trưa đã đến. Sư đoàn hạ lệnh cho cối 120mm bắn vào Châu Sơn 3 quả, tiếp theo là hàng loạt cối 82mm đồng loạt nổ xuống cứ điểm Châu Sơn. Tên trung tá Huế lập tức phát điện xin được rút quân ra khỏi Châu Sơn ngay.

Trưởng ban quân báo sư đoàn lại phát lệnh trên máy PRC 25: “Trung tá Huế nghe đây, ông cho lính đi hàng dọc, đầu súng chúc xuống đất, người đi trước cầm cờ trắng, tôi sẽ cho du kích gỡ mìn trên đường 16 để các ông đi về Việt An. Trái lệnh, tôi sẽ cho du kích đánh vào đội hình của ông nghe rõ chưa?”. Tên trung tá Huế “Thưa quý ngài, chúng tôi biết lỗi, chúng tôi xin rút quân chứ chúng tôi đâu có đầu hàng mà các ông bảo cầm cờ trắng, cấp trên của tôi không chịu đâu”. Trưởng ban quân báo sư đoàn lại phát điện. “Đồng ý cho các ông không cầm cờ trắng, nhưng khi hành quân phải thực hiện đúng quy định của chúng tôi, đi hàng dọc, súng chúc đầu xuống đất. Trái lệnh chớ trách!”. Và bọn địch làm theo quy định của ta. Đến 16 giờ chiều,tiểu đoàn ngụy do tên trung tá Huế chỉ huy, đùm túm nhau rút khỏi cứ điểm Châu Sơn. Lập tức sư đoàn 711 của ta cho lực lượng lên chốt lại Châu Sơn.